Chương 370: Chỗ Trống Trên Mép Nồi
Bà Mạnh hỏi Tạ Tiểu Bảo một câu vào buổi sáng.
“Con... đói không?”
Hắn vừa ăn hết hai bát cháo. Câu hỏi ấy khiến hắn nhìn chiếc bát trong tay, rồi nhìn bà. Hắn định trả lời theo thói quen rằng mình vẫn đói, nhưng bà đã mất nhiều sức để hỏi, hắn muốn nói cho rõ.
“Con vừa ăn xong, bụng không đau. Nhưng con vẫn muốn ăn nữa.”
Bà nhìn hắn. Dư An đặt thêm một chiếc bánh lên đĩa. Bảo không đợi ai mời, cầm lên cắn; bánh còn ấm, có mùi bột rang. Hắn ăn hết, đưa bát cho Hổ rửa rồi ngồi xuống cạnh bà.
“Con đói như thế từ nhỏ,” hắn nói. “Có lúc bận quá thì con quên. Làm xong việc lại nhớ.”
Bà chạm ngón tay lên mặt bàn, gần bản ghi chiều sâu của nồi. Hôm qua Bảo đã ghi số đo lòng nồi nhìn thấy, và lời bà dặn đừng bịt khe nắp. Chiếc nồi cùng nắp đã được bọc lại, cất trong sọt cạnh tường.
“Bà hỏi vì cái nồi ạ?”
Bà chưa đáp. Thanh Nghi đưa tờ ghi về phần người đến sau đặt cạnh bản đo. Bà nhìn cả hai, rồi đưa tay chậm chạp về phía chữ *đói* trong bản chép tờ giấy bị nhòe. Hắn nhớ lúc đọc ở phòng trực không rõ chữ ấy nói về ai.
Bà nói: “Nó... cũng đói.”
Bảo quay ra hiên. Ô Kê đang nhặt thóc trong máng. Hắn biết con gà ăn đều, có khi ăn xong còn mổ thêm; nhưng bà đang nói tới điều gì khác một bữa sáng? Hắn hỏi bà có phải nói Ô Kê không. Bà gật.
“Nó ăn phần của mình và phần người sau, mà vẫn đói?”
Bà nhắm mắt một lát, rồi gật lần nữa. Thanh Nghi chép lại những gì bà xác nhận. Nàng không sửa phần nhòe trong bản gốc, chỉ ghi thêm lời bà bên cạnh bản chép. Bảo nghe tiếng mỏ chạm máng, tưởng tượng con gà sau khi ăn vẫn đứng nhìn lòng bát trống. Hắn không phải tưởng tượng cảnh ấy quá xa; sáng nào ăn xong hắn cũng nhìn nồi như vậy.
“Có phải vì nó ăn phần ấy nên bị đói mãi?” hắn hỏi.
Môi bà động nhẹ. Dư An nghiêng người nghe, nhưng bà chưa nói được. Ông đưa nước, để bà nghỉ. Bảo không hỏi thêm. Hắn lấy bánh còn lại chia cho Hổ, kể chuyện bà vừa nói khi anh từ bếp ra. Hổ ăn chậm, nhìn lồng một lúc rồi hỏi:
“Cháu thấy nó ăn xong có thôi tìm thức ăn không?”
“Có khi nó thôi. Có khi nó mổ cả dây buộc túi.”
“Vậy ít nhất ta biết nó vẫn ăn được. Chuyện bà nói cần nghe tiếp.”
Hôm nay họ đổi người nghe ở giếng. Ông Thuận phải ra ngoài làng giao cá, Hổ nhận lượt cùng Bảo. Thanh Nghi và ông Cẩn vẫn xuống phòng trực; Tín chuyển giấy qua người đã nhận việc đi giữa hai nơi. Bảo kiểm tờ lịch, viết giờ bắt đầu và tên từng người. Chiếc nồi đen được để lại trong sọt ở nhà bà Mạnh.
Ở sân giếng, bác giữ dây gàu đã ngồi xuống chiếc ghế cạnh thành. Chiếc thùng đặt trước chân bác; cái bánh hôm qua không còn trên mặt ghế. Ông Thuận gặp họ trên đường đi, nói bác đã tự đưa tay lấy bánh, nhưng ông không thấy bác ăn hết hay đem cất. Bảo mừng vì bác đã ngồi được, song vẫn thấy bác chuyển động rất chậm. Hắn chào và đặt chén nước sạch gần tay bác.
Ô Kê ra khỏi lồng, uống nước rồi đi quanh chân ghế. Bảo tưởng nó sẽ gõ ngay, nhưng con gà bước tới chỗ bác giữ dây, nhìn chiếc thùng. Hổ đứng gần, sẵn sàng ngăn nếu nó nhảy vào; Ô Kê chỉ cúi xuống nhìn mặt nước rồi quay lại viên đá.
Hai tiếng gõ vang lên. Cả hai chờ. Một tiếng trầm từ phía giếng đáp lại, yếu hơn tiếng hôm trước Bảo nghe. Người chuyển tin sang từ đường, trở về với giấy của Thanh Nghi: nàng và Cẩn nghe đủ hai tiếng gõ, nhưng không chắc âm cuối là tiếng đáp hay tiếng vật ngoài sân rơi. Họ ghi đúng sự không chắc ấy.
“Con nghe được,” Bảo nói, đưa giấy của mình cho Hổ.
“Ở giếng nghe được. Trong phòng không chắc,” anh nhắc.
Hắn ghi hai điều ở hai cột khác nhau. Lượt sau, Ô Kê gõ một tiếng rồi thôi. Hổ cho nó ăn ít thóc, không bắt nó làm tiếp. Bảo đặt bát nước xuống, nhìn chiếc nồi tưởng tượng trong đầu: nắp không khít, bà nói đừng bịt. Nếu khe ấy có công việc riêng, không phải thứ nào hở cũng cần vá lại.
Khi Thanh Nghi và Cẩn trở lại, Cẩn nói đã nhìn ngọn đèn một lượt cát sau lúc nghe tiếng gõ. Lửa nghiêng về kệ hai lần, không tắt. Ông đã giữ cửa và vị trí đèn như hôm trước; Tín ghi người đứng trên bậc ngoài. Bảo chép vào tờ theo dõi, rồi hỏi ông có thể tới nhà xem nắp nồi thêm không.
Cẩn đi cùng. Tín đem theo thước và hai mảnh giấy mỏng từ lò rèn; Hàn Luyện đã cho mượn, nhờ trả sau. Trước khi rời sân, Bảo chào bác giữ dây, nói họ sẽ quay lại. Chiếc ghế vẫn có chỗ cho bác ngồi, còn thùng nước không chắn rãnh.
Bà Mạnh đã tỉnh. Hắn kể lượt nghe: bên giếng có tiếng đáp, trong phòng chưa chắc; ngọn đèn không tắt. Bà nhìn tờ giấy, chạm vào chữ *chưa chắc*. Hắn không biết bà muốn sửa hay chỉ nhận ra nó, bèn đọc toàn bộ hàng một lần nữa. Bà không chỉ thêm.
Bảo hỏi bà có muốn họ xem khe nắp tại nhà không. Hắn nói sẽ đặt nắp nhẹ, thử bằng dải giấy ở một vài chỗ rồi lấy ra, không chèn kín, không dùng búa. Bà nhìn chiếc thước, gật.
Hổ và Cẩn lấy nồi khỏi sọt, đặt trên bàn đã lau khô. Cẩn kiểm thước bằng cách áp hai cạnh vào nhau, xoay thử. Ông không có thước chuẩn khác để so, nhưng ít nhất hai lần áp không cho thấy khe rõ. Ông ghi điều đó, không nói thước hoàn toàn thẳng.
Họ đặt nắp theo hướng hôm qua, khe gần cửa. Bảo luồn đầu dải giấy ở phía khe, giấy vào được một đoạn ngắn. Hắn rút ra ngay. Ở phía đối diện, giấy không lọt khi đặt cùng lực tay. Tín vẽ vòng tròn, ghi hai vị trí; Hổ giữ bàn, không giữ nắp để tránh ấn lệch.
“Xoay nắp có được không?” Bảo hỏi.
Bà Mạnh nhìn chiếc nắp rồi khẽ gật. Hắn xoay một phần vòng, thấy khe dịch theo nắp chứ không còn ở phía cửa. Cẩn bảo điều đó cho thấy vị trí hở thay đổi khi xoay, nhưng chưa đủ xác định chỉ nắp bị vênh hay cả miệng nồi cũng không đều. Họ ghi lại và đặt nắp về hướng cũ.
Ô Kê ngoài hiên gõ vào máng ba tiếng. Bảo quay đầu; Hổ ra xem, máng vẫn có nước. Con gà nhìn vào nhà, đứng sát nan. Anh đặt lồng ở ngưỡng hiên để bà Mạnh nhìn được, không đưa tới sát bàn.
Bà nhìn con gà, rồi nhìn khe nắp. Bà nói, rất khó nhọc: “Để... nó... nghe.”
Bảo ngỡ bà muốn Ô Kê vào nhà. Hắn hỏi, bà không đáp. Thanh Nghi đặt hai mẩu giấy: *nghe ở giếng* và *nghe gần nồi*. Bà chạm vào dòng thứ hai. Dư An hỏi có thể đưa lồng gần hơn không; sau một lúc bà gật.
Hổ nhấc lồng tới cách bàn một đoạn, giữ cửa đóng. Ô Kê bước tới phía gần nồi, ngẩng đầu. Bảo không thấy nắp chuyển động. Hắn cũng không nghe tiếng đáp từ giếng trong gian nhà; từ đây giếng cách mấy mái và những bức tường.
Con gà gõ một lần vào nan. Nó dừng, rồi gõ tiếp một lần nữa. Bảo chờ âm trầm quen thuộc, nhưng chỉ nghe tiếng nồi cháo sôi ngoài bếp và tiếng Xám cọ dây ngoài sân. Ô Kê lại nhìn khe nắp, rồi cúi xuống mổ thóc.
“Có phải nó đang nghe cái nồi?” hắn hỏi.
Bà Mạnh nhìn hắn, khẽ lắc đầu. Bà đưa tay về phía tai mình, rồi chỉ vào con gà. Dư An đợi bà nói. Một lát sau bà phát ra hai tiếng: “Nghe... nó.”
Bảo im lặng. Hôm ở giếng, hắn chỉ chú ý hai tiếng gõ và tiếng đáp phía sau, như thể Ô Kê là một chiếc que dùng để thử. Bà muốn họ nghe chính con gà hay nghe điều gì từ nó? Hắn ngồi xuống ngang tầm lồng. Ô Kê đang ăn, thỉnh thoảng dừng rồi thở khẽ.
Thanh Nghi viết lời bà và hỏi có phải họ cần để ý khi Ô Kê đói không. Bà nhìn dòng chữ, nhưng chưa gật hay lắc. Dư An bảo mọi người để bà nghỉ. Hổ mang lồng trở lại hiên; Bảo bọc nồi và nắp, cất nguyên trong sọt.
Bữa chiều, Bảo lấy thóc cho Ô Kê như thường. Con gà ăn khá nhiều, rồi đi quanh lồng, mổ vào máng đã rỗng. Hắn thêm một ít. Nó ăn tiếp, nhưng một lúc sau lại nhìn cái nồi bếp qua cửa. Hắn kể với Dư An, hỏi có nên cho thêm mãi không. Ông xem con gà, khuyên hắn giữ lượng ăn đều, theo dõi nước và phân, không ép nó ăn tới khi đầy máng.
Bảo nghe lời. Hắn đặt thêm nước, ngồi cạnh lồng, kể bà Mạnh nói nó cũng đói. Con gà không trả lời. Hắn đặt bàn tay lên bụng mình; bữa chiều vừa ăn xong mà hắn vẫn muốn thêm một bát.
“Ta cũng thế,” hắn nói. “Nhưng ta không biết ngươi đói giống ta đến đâu.”
Đêm xuống, Hổ đưa cho hắn một mẩu bánh để ăn khi đói. Bảo xé đôi, giữ một nửa cho sáng. Hắn nhìn nửa bánh trong tay, nghĩ tới chiếc bát của người đến sau. Có những thứ hắn có thể để lại ngay: một nửa bánh, một bát nước, một chỗ nghỉ cho bác giữ dây. Phần Ô Kê đã ăn thì khác; muốn biết cách trả, hắn còn phải học cách đong.
Hắn ghi vào tờ giấy: *Bà nói Ô Kê cũng đói. Bà dặn nghe nó.* Bên dưới, hắn thêm lời của Dư An về lượng thóc và nước, rồi gấp giấy lại. Ngoài hiên, con gà cuối cùng cũng rúc đầu vào lông. Bảo ngồi thêm một lúc, nghe tiếng thở rất khẽ của nó trước khi đi ngủ.