Chương 373: Ba Nghìn Năm Để Chờ
Mưa tới lúc Tạ Tiểu Bảo đang kiểm máng nước.
Một giọt rơi qua mái hiên, đúng giữa đầu Ô Kê. Con gà ngẩng lên, lùi một bước. Giọt thứ hai rơi xuống máng, làm mặt nước rung tròn. Bảo chuyển lồng vào sâu trong mái, đặt một chiếc chậu dưới chỗ dột rồi chạy tìm Hổ.
Hổ trèo lên ghế xem mái từ phía dưới. Một thanh tre giữ ngói đã lỏng, nước chảy theo mép vào hiên. Anh không trèo lên sửa ngay giữa cơn mưa; anh kê tấm ván dẫn nước xuống chậu và dặn Bảo đừng đặt lồng sát tường ẩm. Khi mưa nhẹ hơn, anh sẽ nhờ ông Cẩn xem giúp.
Bảo lấy khăn lau đầu Ô Kê. Con gà không thích, mổ vào góc khăn. Hắn buông ra, để nó tự rũ lông. Trên bàn trong nhà, chiếc ghế dành cho người chưa tới vẫn trống. Hắn nhìn chiếc khăn trên lưng ghế, bỗng nhớ hôm qua mình đã nghĩ sáng nay có thể có khách. Trời mưa thế này, người từ ngoài đường khó đi tới làng.
Dư An đang giúp bà Mạnh ăn. Bà nhìn mưa, hỏi được một tiếng: “Giếng?”
“Hôm nay con chưa ra,” Bảo đáp. “Đợi mưa nhỏ, con và Hổ sẽ đi. Thanh Nghi đã hẹn ông Cẩn ở từ đường.”
Bà đưa tay về phía tờ lịch nghe. Hắn đặt tờ giấy trước mặt bà, chỉ lượt sáng có tên những người đã nhận việc. Cậu Tín có thể không tới đúng giờ vì còn đưa thức ăn cho ông Diệp. Nếu vậy, họ sẽ đổi giờ, không ghi như đã kiểm.
Bà nhìn dòng chữ, rồi chỉ vào một tờ khác: bản chép câu *người sau chưa đến; giữ chỗ, không thay tên*. Bảo đọc lại. Bà nói: “Bao... lâu.”
Hắn ngẩng lên. “Bà muốn nói người ấy chờ bao lâu?”
Bà lắc đầu, mắt hướng ra chiếc lồng. Hắn sửa câu hỏi: “Ô Kê đã giữ bao lâu?”
Bà nhìn hắn, khẽ gật. Môi bà động đậy, nhưng tiếng mưa át mất. Dư An kéo ghế lại gần. Họ đợi, nghe bà nói được hai tiếng rời: “Sổ... cũ.”
“Quyển sổ bàn giao trong hộp?” Thanh Nghi hỏi.
Bà không đáp. Nàng đưa bản vẽ hai quyển sổ, một trên bàn phòng trực, một trong hộp. Bà chạm vào hình quyển trong hộp, rồi chỉ về mép giấy phía trên, như muốn lật ngược về đầu.
“Bà muốn chúng con xem những trang đầu?” Bảo hỏi.
Bà gật. Hắn hứa sẽ chép những gì đọc được. Hổ đặt chậu hứng nước ổn định, rồi cùng hắn đưa Ô Kê ra từ đường khi mưa đã thưa. Lồng được phủ phía trên, để hở hai bên cho thoáng. Xám đi chậm qua vũng nước, Bảo dẫn dây, Hổ đỡ chiếc sọt khỏi nghiêng.
Ở sân giếng, ông Thuận đang giúp bác giữ dây chuyển thùng nước khỏi chỗ nước mưa chảy qua. Bác đã đứng dậy khỏi ghế; bàn tay bác đặt trên quai thùng, chuyển động chậm nhưng có chủ ý. Bảo chào bác, nói hôm nay cả nhóm sẽ nghe sau khi người chuyển tin tới. Ông Thuận nhận trông Ô Kê dưới mái đối diện giếng, cho hắn sang từ đường.
Thanh Nghi và ông Cẩn đã tới. Tín đến sau, áo ướt ở vai. Cậu kể ông Diệp đang nghỉ, muốn giữ tấm biển gần giường, và đã có người hàng xóm ngồi cùng. Cậu nhận lượt chuyển giấy đến giữa buổi. Họ ghi giờ bắt đầu theo lúc mưa ngớt và vị trí bóng sáng trên sân, vì trời nhiều mây không có bóng cột rõ.
Bảo quay lại giếng. Ô Kê bước khỏi lồng, uống nước rồi gõ hai tiếng cạnh chân ghế. Tiếng đáp vang lên một lần, nhỏ nhưng rõ. Tín nhận giấy của Thanh Nghi: nàng và Cẩn cũng nghe được âm trầm sau hai tiếng mỏng. Hắn chép kết quả, rồi đưa con gà về lồng khi nó tự bước vào.
Lượt nghe xong, hắn nhờ ông Thuận trông Ô Kê thêm một lúc. Ông đồng ý, nhưng dặn hắn về trước khi ông đi giao rau. Bảo cùng Hổ sang từ đường. Hắn chào người phụ nữ cầm chổi, kể bà Mạnh muốn họ xem những trang đầu của sổ. Người đàn ông trong gian chính vẫn giữ tập giấy; Hổ đặt một chiếc khăn khô gần ông, nói nếu cần có thể dùng.
Cẩn kiểm tấm chắn và cửa trong như mọi lần. Họ xuống phòng, thắp đèn, mở hộp ở ngăn dưới. Quyển sổ mỏng nằm giữa các tờ giấy bàn giao. Thanh Nghi lật về đầu, dùng hai mảnh giấy sạch giữ trang khỏi tự khép; nàng không ép gáy sổ phẳng.
Trang đầu ghi tên những người trực trước bà Mạnh. Các dòng đã cũ, có tên đọc được, có tên nhòe. Cột *phần sau* xuất hiện từ trang đầu của quyển này; những dấu nhỏ cho thấy người nhận đã nghe chuyện, không có dấu nào được ghi là trả. Ở mép trang có một lời chú: *Sổ này chép lại từ sổ trước, để ngày mất phần ở bản cũ.*
Bảo đặt ngón tay gần hàng chữ. “Còn một quyển nữa?”
“Người chép nói có bản cũ,” Thanh Nghi đáp. “Chưa biết còn ở đây không.”
Hắn nhìn trong hộp. Dưới quyển sổ còn một tấm bìa mỏng, trước đây họ tưởng là lớp lót. Cẩn nhấc một góc, thấy nó được khâu với mấy tờ giấy bên trong. Bìa đã sẫm, gáy sổ bung chỉ. Ông đặt nó trên bàn, đỡ cả bìa khi mở.
Trang đầu rách mất một góc. Phần còn lại có dòng chữ lớn: *Sổ giữ lửa cửa chín*. Bên dưới là các cột năm và tên người trực. Những trang sau ghi ngắn hơn quyển mới: lúc thay bát nước, lúc tiếng đáp thiếu, ngày thay người nghe. Một vài hàng bị nước làm mờ.
Bảo lật tới cuối. Giữa hai trang có tờ giấy nhỏ ghi: *Người giữ lửa ăn phần của mình, rồi ăn phần của người sau. Ghi lại để đời sau biết chỗ thiếu.* Dưới đó là một năm ghi theo lối cũ, tiếp đến một dòng do người chép sau thêm: *Tính đến ngày chép sổ mới: gần ba nghìn năm.*
Bảo đọc xong, tưởng mình nhìn sai chữ. Hắn đưa giấy cho Thanh Nghi. Nàng đọc lại, rồi chỉ phần khác màu: ngày xảy ra được ghi bằng một lối tính, còn con số gần ba nghìn năm là lời người sao sổ tính đến ngày chép quyển mới. Họ chưa biết từ lúc chép sổ mới đến nay đã qua bao lâu.
“Ít nhất chuyện ấy đã rất lâu,” hắn nói.
“Đúng theo ghi chép này.” Nàng nhìn hàng năm cũ. “Ta có thể chép cả cách ghi ngày để sau hỏi người biết đổi lịch. Không nên cộng tiếp bằng những con số ta chưa rõ.”
Bảo nhớ lời bà Mạnh hôm trước: *rất lâu*. Hắn đã tưởng vài đời người, có lẽ lâu hơn ngôi nhà. Nay trên giấy là gần ba nghìn năm tính từ một lần chép sổ còn chưa biết ngày. Hắn nghĩ tới con gà vừa uống nước ngoài sân, đôi chân bé tẹo bới đất cạnh giếng. Hắn không thể hình dung ba nghìn năm dài thế nào.
“Có phải Ô Kê sống từ lúc đó?”
Cẩn chỉ dòng chữ: “Giấy gọi là người giữ lửa. Bà Mạnh nói Ô Kê đã ăn phần sau và còn giữ. Ghép hai lời ấy thì có cơ sở nghĩ là nó. Nhưng giấy không ghi tên Ô Kê.”
Bảo chép từng dòng. Hắn đánh dấu mực nào là của người chép sau, giữ nguyên chữ *gần*. Hắn muốn hỏi người giữ lửa ăn phần ấy lúc nào, vì sao và bằng cách nào. Tờ giấy không kể. Dưới cùng chỉ có câu: *Không thay chỗ trống bằng tên người đang trực.*
Hổ nhìn chiếc bát vẽ ở góc. “Vậy nhiều người đã giữ chỗ cho người chưa tới.”
“Và Ô Kê vẫn giữ lửa,” Bảo nói.
Hắn lật thêm một trang. Có hàng ghi: *Người giữ lửa không thôi đói. Nồi còn ở cửa, nó còn tìm nồi.* Bên cạnh là ghi chú sau này, chữ nhỏ hơn: *Đem nước, cho nghỉ, đừng lấy tiếng gọi làm lệnh bắt nó làm thêm.*
Hắn nhớ lần mình muốn con gà gõ lại khi mọi người chưa sẵn sàng. Một việc có thể được kiểm đúng cách, nhưng không vì thế mà người giữ lửa phải gõ mãi. Hắn chép câu ấy, nhờ Hổ đọc lại để khỏi sót chữ.
Họ bọc quyển sổ cũ trong lớp bìa, đặt trở lại dưới quyển mới. Tờ giấy rời được kẹp đúng trang đã tìm thấy; Thanh Nghi ghi vị trí của nó trên bản chép. Ông Cẩn kiểm đèn, tắt bấc, rồi cùng mọi người lên bậc. Tín đóng tấm chắn; chìa treo lại ở cột hiên.
Bảo ra giếng đón Ô Kê. Ông Thuận nói con gà đã ăn một ít thóc và uống nước, không gõ thêm. Ông phải đưa rau tới nhà cửa xanh, nên Bảo cảm ơn và nhận lại lồng. Hắn không bế Ô Kê ngay; hắn đặt lồng dưới mái, ngồi xuống ngang tầm mắt nó.
“Gần ba nghìn năm,” hắn nói. “Ta mới đi khỏi làng một chuyến đã thấy đường dài.”
Ô Kê nhìn hắn. Hắn đưa ngón tay qua nan, nhưng con gà chỉ chạm mỏ vào đó, không mổ. Hắn không biết nó nhớ bao nhiêu năm, hay có hiểu con số ấy không. Dù vậy hắn muốn kể, vì tờ sổ nói người nhận phải được nghe; hắn cũng muốn người giữ lửa được nghe rằng mình không còn phải giấu chỗ thiếu.
Bà Mạnh nghe bản chép vào đầu buổi chiều. Khi Bảo đọc tới *gần ba nghìn năm*, bàn tay bà đặt trên mặt bàn thôi nhích. Hắn hỏi có phải sổ nói về Ô Kê không. Bà nhìn con gà dưới hiên, sau đó nói: “Nó.”
“Ô Kê đã giữ từ ngày ăn phần ấy?”
Bà gật. Dư An đỡ bà uống nước. Bảo nhìn tờ giấy, hỏi bà có biết vì sao nó ăn cả phần người sau không. Bà đưa tay lên môi, rồi đặt tay vào lòng mình. Hắn không hiểu; Dư An đợi thêm nhưng bà đã thấm mệt.
“Con sẽ hỏi sau,” Bảo nói. “Hôm nay con biết nó đã chờ rất lâu.”
Hổ sửa mái hiên khi trời tạnh hẳn. Cẩn giúp giữ thang, Tín đưa thanh tre mới. Bảo ở dưới chuyền dây và thu những mảnh ngói; họ không đặt đồ lên lồng Ô Kê. Khi mái hết dột, Hổ đổ chậu nước mưa đi chỗ thích hợp, rửa chậu và đặt úp cho khô.
Bảo đem thóc cho Ô Kê như mọi ngày. Con gà ăn, dừng một lúc, rồi nhìn về chiếc sọt đựng nồi. Hắn mở lớp vải ngoài để nó nhìn thấy quai nồi, nhưng không nhấc nồi ra hay mang đi. Ô Kê phát một tiếng khàn, sau đó đứng yên.
“Ngươi đã đi theo cái nồi vì phần ấy sao?” hắn hỏi.
Không có câu trả lời. Hắn nhớ dòng trong sổ: *Nồi còn ở cửa, nó còn tìm nồi.* Trên đường về, nồi ở cùng hắn và Ô Kê vẫn theo. Điều đó gần với lời ghi, nhưng không cho hắn biết con gà nghĩ gì. Hắn đóng vải lại trước khi hơi ẩm từ sân vào nhà.
Bữa tối, Hổ để chiếc ghế trống cạnh bàn. Bảo định xới một bát cháo đặt ở đó, rồi dừng lại: người chưa tới có một phần chưa được trả trong sổ, còn cháo này sẽ nguội. Hắn để lại gạo đủ nấu thêm nếu có khách, rồi chia phần cho những người đang có mặt.
Sau khi ăn, hắn lấy bản chép mới, viết xuống cuối: *Theo sổ cũ, lúc chép sổ mới đã gần ba nghìn năm từ ngày mất phần. Bà Mạnh nói người giữ lửa ấy là Ô Kê.* Hắn đọc lại cho Thanh Nghi nghe. Nàng gật, nhắc hắn giữ chữ *gần* và mốc tính; hắn đã giữ cả hai.
Ngoài hiên, trời lại lất phất. Nước không còn rơi lên đầu Ô Kê. Con gà rúc lông, đứng dưới mái vừa sửa. Bảo nhìn chiếc ghế trống rồi nhìn nó, nghĩ đến biết bao người đã ngồi trong phòng trực, ghi tên mình và giữ lại một dòng không có tên. Một ngày nữa vừa qua; ngày mai hắn vẫn sẽ mang nước tới.