Chương 401: Đường Về Có Bậc Thềm
Chiếc xe dừng trước hàng rào thấp.
Cổng nhà người giữ danh sách không khóa. Người nhà đẩy một cánh vào trong, bản lề kêu lên một tiếng dài. Ông ngồi trên xe nhìn khoảng sân hẹp, nơi cỏ đã mọc sát chân chum. Một chiếc dép nằm nghiêng dưới mái hiên, chiếc còn lại ở cạnh bậc cửa.
“Ta nhớ để chúng cạnh nhau,” ông nói.
Người nhà nhìn đôi dép rồi đáp: “Có thể con đã dọn khi vào lấy chăn. Con không nhớ.”
Ông không nói gì thêm. Hổ giữ xe, hỏi ông muốn xuống ngay hay ngồi nghỉ. Ông đưa tay ra, người nhà đỡ một bên, Hổ đỡ bên kia. Bảo đứng phía trước, định nắm lấy cánh tay còn lại, nhưng cả hai tay ông đã có chỗ dựa. Hắn chuyển chiếc ghế thấp từ hiên xuống cạnh xe.
Bậc thềm cao hơn hắn nghĩ. Ông bước lên được một chân, chân kia còn ngập ngừng. Người nhà không kéo; người ấy đợi ông đặt bàn chân vững rồi mới dìu qua. Vào đến hiên, ông ngồi xuống ghế, nhìn khoảng sân như thể đang kiểm tra mình đã đi đến đâu.
“Nhà vẫn ở đây,” Bảo nói.
“Ta có bảo nó đi đâu đâu.”
Hắn đỏ mặt. Ông nhìn hắn, đưa tay chỉ đôi dép. “Nhặt giúp ta. Đôi này mới có một chiếc đi lạc.”
Bảo nhặt cả hai, phủi bụi rồi để sát cạnh ghế. Ô Kê chui qua hàng rào, đến bên chum nước. Nó ngó vào, không thấy gì ăn, bèn đi theo người nhà khi người ấy mở cửa.
Trong nhà có mùi gỗ cũ và vải để lâu. Ánh sáng từ cửa rọi tới một chiếc bàn; trên bàn là ấm trà úp và hai cái chén. Người nhà mở cửa sổ cho thoáng, hỏi ông muốn chiếc áo nào. Ông nói chiếc áo nâu treo sau cánh cửa gian trong, nhưng tự mình muốn xem trước.
Hổ hỏi ông có cần dìu vào không. Ông nói cần, rồi đặt một tay lên tay vịn cửa. Bảo đem ghế theo; ông đi vài bước lại ngồi một lần. Hắn thấy quãng đường trong nhà còn chậm hơn lúc đẩy xe, nhưng không ai bảo ông phải quay lại.
Chiếc áo nâu vẫn ở sau cánh cửa. Người nhà lấy xuống, giũ nhẹ. Mùi nắng cũ lẫn với mùi bụi bay ra. Ông cầm cổ áo, sờ đường khâu trong tay.
“Cái này rách ở đâu?” ông hỏi.
“Ở tay áo. Con đã vá.”
Ông lật mặt trong, tìm đường chỉ. “Vá lệch.”
“Bác mặc được không?”
Ông thử xỏ tay. Đường vá lệch một chút nhưng không cấn. “Được.”
Người nhà lấy thêm một chiếc áo mỏng và chiếc khăn. Ông bảo đủ rồi, đừng mang cả hòm đến từ đường. Người ấy hỏi có cần đem tập giấy cất trong ngăn bàn không. Ông nhìn Bảo và Hổ, rồi nói: “Để ta xem trước.”
Ngăn bàn bị kẹt. Hổ giúp giữ bàn, còn người nhà kéo nhẹ hai bên. Ngăn mở ra, bên trong có mấy tờ giấy gấp, một cuộn dây và chiếc bút cũ. Ông lấy tờ trên cùng, mở từng nếp. Đó là một bản vẽ đường, khác với tập danh sách ông đang giữ ở từ đường. Ông nhìn lâu, ngón tay dừng tại một hình vuông.
“Nhà nào vậy?” Bảo hỏi.
“Chỗ để xe của người chở dầu ngày trước.”
Hắn lập tức cúi gần hơn. Ông lắc đầu: “Đừng vội. Ta vẽ chỗ ông ấy từng đỗ, không phải nhà ông ấy.”
Bên cạnh hình vuông có con đường dẫn ra trạm, một vòng tròn và vài nét đã nhòe. Người nhà nhìn tờ giấy, bảo vòng tròn có thể là cây đa gần bãi xe. Ông đồng ý mình từng vẽ cây như vậy, nhưng không chắc nét nhòe bên cạnh là tên người hay tên quán. Thanh Nghi không đi cùng, Bảo lấy giấy nháp trong túi, hỏi ông có cho chép lại không.
“Chép chỗ bãi xe và cây đa. Phần chữ nhòe để trống. Ta còn muốn hỏi ông Thuận.”
Bảo cố vẽ con đường và hai dấu. Lần này hắn không thêm quả trên cây. Ông xem, bảo cây đa trông như chiếc bát úp. Hắn muốn sửa, nhưng ông giữ tờ giấy lại: “Cứ thế. Viết bên cạnh là cây đa, người ta sẽ hiểu.”
Hổ nhắc đã gần hết lượt Thanh Nghi nhận trực. Ông nghe vậy, gấp bản vẽ cũ và đặt lại vào ngăn. Người nhà hỏi có muốn mang về từ đường không. Ông đáp chưa, chỉ cần bản chép; lát nữa ông muốn trở lại từ đường nghỉ. Họ đóng ngăn bàn, để bản gốc trong nhà.
Bảo đưa ông chiếc áo nâu. Ông khoác lên người, tự cài nút thứ nhất rồi nhờ người nhà giúp hai nút dưới. Khi xuống bậc thềm, ông dừng lại nhìn đôi dép. Ông chọn mang chúng theo, nói muốn để dưới chân ghế ở từ đường. Người nhà đặt dép vào một túi vải, buộc cạnh xe.
Trên đường về, họ gặp cô con gái nhà bên cây mận. Cô mang một chiếc rổ có phủ khăn, hỏi ông giữ danh sách đã về nhà rồi sao. Ông nói mới ghé lấy áo. Cô nhấc khăn cho ông xem chiếc bát sứt miệng mẹ cô giữ, nhưng không lấy ra khỏi rổ.
“Mẹ bảo nếu bác muốn xem thì đưa tận đây. Tối con mang về.”
Ông nhìn vết sứt rồi hỏi có thể cầm không. Cô trao chiếc bát bằng hai tay. Ông xoay bát, xem đáy và miệng, cuối cùng nói ông không nhận ra. Cô không có vẻ thất vọng; cô bảo mẹ chỉ muốn giữ đến khi tìm được người nhà cũ hoặc người họ nhờ nhận.
Bảo hỏi có thể vẽ dấu sứt để gửi người ở trạm nhận ra không. Cô suy nghĩ rồi nói hãy hỏi mẹ, vì bà đang giữ bát. Hắn gật đầu. Người nhà ông giữ danh sách chỉ bức vẽ bãi xe mới chép, hỏi cô có nhớ chỗ ấy không. Cô bảo từng đi ngang cây đa, nhưng không nhớ lúc nhỏ bãi xe có nằm đó hay không.
Ông trả chiếc bát, cảm ơn cô. Cô bọc lại, hẹn mang về trước bữa tối. Bảo nhìn theo chiếc rổ: họ đã có thêm hình một nơi để hỏi, nhưng vẫn chưa có địa chỉ nhà người đã đi.
Thanh Nghi đứng ở cửa phòng trực khi họ trở về. Nàng báo bát nước chưa xuống rõ so với dấu tạm, đèn vẫn cháy; ngoài giếng, người chị vừa báo tấm chắn còn giữ được khe. Bảo nghe hết, cùng nàng xem lại trong phòng, rồi nhận ca. Hắn đưa nàng bản vẽ bãi xe và thuật lại lời ông: đó là nơi từng đỗ xe, không phải nhà người chở dầu.
Nàng viết câu ấy dưới hình. “Ai có thể biết hiện giờ còn bãi xe không?”
“Ông Thuận có thể biết. Người ở trạm cũng có thể.”
“Vậy đợi hỏi. Đừng thêm một con đường mới chỉ vì bức cũ có đường.”
Bảo lấy bút định nối nét đứt từ bãi xe ra trạm, rồi đặt xuống. Hắn để nguyên khoảng trống. Ông giữ danh sách được đưa về ghế ở gian chính, đôi dép đặt ngay ngắn bên dưới. Người nhà mang áo mỏng ra phơi một lát cho bớt mùi cất lâu.
Cuối chiều, ông Thuận đến. Ông nhìn bản vẽ và nhớ cây đa từng ở gần một chỗ xe dừng nghỉ, nhưng nói bãi có thể đã chuyển. Ông cũng báo đã trả chai dầu cho bà bán đậu. Còn Phúc, ông chưa gặp; một người ở chợ nghe nói vài ngày nữa có chuyến hàng tới trạm, nhưng chưa biết ai đi.
Người nhà ông giữ danh sách muốn nhờ chuyến hàng ấy chuyển lời hỏi nếu gặp được người nhận. Bảo đề nghị viết sẵn một tờ ngắn, nêu tên gọi chú Quý bán dầu và chú Ba thường nhận hàng, kèm lời nhờ liên lạc lại từ đường nếu họ muốn. Ông giữ danh sách xem và bảo chưa nên ghi tên nhà đã rời đi lên thư gửi chung, vì chưa hỏi được họ có muốn tin mình được truyền đi hay không. Họ sửa tờ nhắn, chỉ hỏi cách liên hệ hai người chở và nhận dầu.
Tờ giấy được đặt trong phong bì chưa dán. Họ chưa biết ai đi, cũng chưa nhờ được ai. Ông Thuận nhận hỏi khi gặp chuyến hàng; nếu không gặp, ông sẽ báo lại. Bảo ghi việc ấy, rồi xếp bản đồ bên cạnh.
Tối xuống, người đàn ông thử đôi dép. Ông đặt một chân, rồi chân kia vào đúng vị trí. Người nhà kéo ghế lại gần bàn ăn. Ông nói mình không muốn về nhà ở hẳn tối nay, nhưng muốn ngày mai mở cửa sổ gian trước. Người nhà đồng ý nếu trời không mưa, và hỏi ông có muốn đi cùng không.
“Mai hỏi ta lại,” ông đáp.
Bảo ngồi ở cửa phòng trực nghe câu trả lời. Trong bát lành, mặt nước lặng. Hắn nhìn dấu tạm, ghi mức nước rồi quay ra bếp. Tín đang xới cơm, hỏi hắn có ăn ngay không. Hắn đáp có, nhưng trước hết đi lấy đôi đũa cho người đàn ông đã về nhà một lần và tự quyết định trở lại.