Chương 421: Lối Qua Giếng
Người chở hàng đến trước lúc trời sáng hẳn.
Anh nhận hai phong bì đã chuẩn bị: một gửi người ở trạm về bến đò, một gửi Tề cùng những câu hỏi về lời mời của Thiên Mệnh Điện. Ông Thuận đưa anh bản xác nhận đã ghi từ chiều trước. Anh xem lại, chỉ vào dòng hẹn đi sáng nay.
“Đường phía trước có sương. Ta vẫn đi, nhưng có thể đến trạm muộn.”
Ông Thuận thêm lời ấy vào cả hai bản. Người chở hàng nhận phần của mình, đặt hai phong bì vào túi khô rồi lên xe. Bảo tiễn anh ra cổng, thấy túi bánh của anh đã được buộc vào thành xe, không còn nằm cạnh thư như tối qua.
“Anh nhớ ăn đấy,” hắn nói.
“Ta mua cho ta mà.”
Xe đi khỏi, Bảo trở về nhận bát cháo Tín để ấm. Hắn đã giao ca cho Hổ, muốn ngủ thêm một lúc, nhưng ngoài sân có tiếng người gọi. Hai người từ chợ đến hỏi đường qua giếng để sang phía quầy thịt. Họ nghe nói người bán thịt đã tỉnh và muốn mua ít xương nấu canh.
Thôi thúc chưa mở quầy. Người đàn bà chăm ông đang đi chợ, Dư An vừa xem chân ông hôm trước, còn con dao vẫn được bọc và cất gần chỗ ông nghỉ. Bảo giải thích. Một người khách nói chỉ cần đi ngang xem quầy ở đâu, mai quay lại cũng được.
Cô em nhà bác giữ dây đang ở giếng. Cô chỉ lối vòng qua phía ngoài tấm chắn, nhắc họ đừng bước lên đoạn rãnh có dây đi qua. Hai người đi theo, thấy quầy còn đóng thì rời làng. Bảo định trở lại giường, nhưng cô gọi hắn.
“Lối này hôm qua có ba người đi qua. Hôm nay mới sáng đã thêm hai.”
“Chị muốn con treo bảng không?”
“Ta muốn bác biết trước. Còn người đi chợ cần đường qua, không thể cứ bắt họ quay về.”
Hắn sang nhà cửa xanh. Bác giữ dây nghe cô kể, hỏi tấm ván ở đoạn rãnh còn chắc không. Cô đáp ván bên ngoài vẫn dùng được, nhưng một đầu bị bùn phủ, người lạ có thể không thấy. Bác nhờ cô và Hổ xem sau khi Hổ đổi ca; nếu cần thêm ván, hỏi nhà có ván trước, không lấy tấm chắn ở giếng ra dùng.
“Còn bảng?” Bảo hỏi.
“Viết được thì viết lối nào đi qua, đừng viết chỉ có người làng mới được đi.”
Hắn nhớ Thôi thúc từng nhờ hỏi ai giữ đường cho người bán hàng và người đi lấy nước. Con đường này không chỉ dẫn tới một cái giếng mà còn dẫn tới quầy thịt, mấy nhà và chợ. Nếu khách đến nhiều, một mũi tên có thể giúp, nhưng mũi tên ấy phải chỉ đường thực sự đi được.
Sau bữa sáng, Hổ đổi ca với Thanh Nghi. Anh cùng cô em ra xem ván, người chị đem một cây chổi quét bùn khỏi đầu ván. Tấm ván không gãy, nhưng mặt trơn. Hổ hỏi có thể rắc cát lên không. Cô em bảo sẽ hỏi bác vì có đoạn gần rãnh; họ không biết cát rơi xuống có làm tắc phần nước đang chảy.
Bảo nhận việc đi hỏi. Bác bảo chỗ đầu ván ngoài rãnh có thể rắc ít cát, nhưng không đổ vào khe. Người chị mang một bát cát đến, rắc mỏng ở chỗ đặt chân. Hổ thử đi qua, vẫn giữ tay vào cọc khi bước. Cô em nhắc nếu mưa lớn phải xem lại, cát có thể bị cuốn.
Tín tìm một mảnh gỗ để viết bảng. Mặt gỗ còn dấu mực cũ; anh chà sạch một bên. Bảo viết: *Lối sang quầy và các nhà: đi qua ván bên ngoài. Xin không bước vào rãnh và không chạm dây.* Người chị đọc, hỏi người không biết chữ thì sao. Họ vẽ thêm một mũi tên và hình tấm ván, nhưng hình Bảo vẽ trông giống một cái bàn dài.
“Ngươi đang mời họ ngồi à?” Tín hỏi.
Bảo sửa bằng cách thêm hai nét tượng trưng cho bàn chân. Hổ xem, nói hai nét ấy giống cái đũa. Cuối cùng cô em vẽ lại một bàn chân nghiêng trên tấm ván. Họ treo bảng ở cọc ngoài, không buộc vào dây đang trông.
Gần trưa, người phụ trách cột chợ ghé qua cùng một người bán hàng. Ông nói tờ giấy mới đã được nhiều người nhìn thấy, nhưng vẫn có người đến chợ hỏi có phải cửa chín nhận khách vào xem không. Người bán hàng muốn biết có thể mang hàng đến bán gần từ đường nếu đông khách. Ông không định đặt sạp ngay, chỉ muốn hỏi chỗ nào không chắn đường.
Bà Mạnh vừa đến xem phòng trực. Bà mời họ ngồi dưới hiên, nhờ cô em và người chị cùng nghe vì họ đang trông giếng. Người bán hàng nói mình bán nước và bánh, có thể ở ngoài cổng, nhưng không biết người đi giếng có cần khoảng đất ấy để đổi lượt không.
Cô em chỉ đoạn đường từ nhà bác đến giếng. Nếu sạp dựng sát cổng, người đẩy xe và người đi lấy nước có thể phải vòng ra đường đất trơn. Tín hỏi ông có thể đặt sạp phía quán nước ở đầu làng không. Người bán hàng nói chỗ ấy thuộc người khác; ông phải hỏi chủ quán, không thể nhận ngay.
“Bà con trong làng có cần mua không?” ông hỏi.
“Có người có thể muốn,” bà Mạnh đáp. “Nhưng hiện chúng ta chưa biết sẽ có bao nhiêu khách. Nếu ông muốn bán, hãy hỏi chủ chỗ và để lối đi.”
Ông không tỏ vẻ thích thú với câu trả lời chưa chắc chắn, nhưng lấy giấy ghi địa điểm quán. Bảo nhớ câu hỏi Thôi thúc gửi cho điện. Hắn hỏi người bán hàng khi khách đông, những người trong làng có phải trả giá cao hơn không. Ông đáp giá hàng phụ thuộc nguồn mua và vận chuyển; ông có thể báo giá trước, còn những người bán khác phải tự hỏi họ. Hắn ghi lời ông, không coi đó là giá của cả chợ.
Bữa trưa, người đàn bà chăm Thôi thúc mang bát sang lấy canh. Bảo kể có khách muốn mua xương, quầy chưa mở nên họ đi tiếp. Bà hỏi họ có để lời nhắn không. Hắn nói không, chỉ bảo có thể quay lại. Bà sẽ kể Thôi thúc nghe, nhưng hôm nay ông còn tập đi trong nhà, chưa thể đứng bán hàng.
“Ông ấy có muốn xem bảng chỉ đường không?” Bảo hỏi.
“Ta hỏi. Có thể ông ấy còn muốn sửa hình bàn chân của cháu.”
Tín nghe thấy liền cười. Bảo bảo hình ấy là cô em vẽ; Tín lập tức thôi cười, hỏi cô có thể vẽ thêm một mũi tên cho gian bếp không. Cô nói được nếu anh lấy giấy mới, không vẽ lên bảng ngoài giếng.
Buổi chiều, người nhà ông giữ danh sách đến từ nhà, mang theo chiếc túi vải và một tờ giấy. Ông đã ngủ được đêm qua, sáng muốn sang từ đường nhưng mưa lất phất nên ở lại. Ông nhờ người nhà báo lá thư về bến đò đã được gửi đúng lời ông muốn, và hỏi có ai cần ông vẽ đường cho khách đi qua làng không.
Bảo kể về bảng mới. Người nhà ông nhìn, nói mũi tên đúng nhưng chưa chỉ lối vòng ra phía sau quầy thịt. Nếu quầy còn đóng, khách có thể nghĩ đường cụt. Họ đề nghị thêm một tấm nhỏ sau khi hỏi những nhà ở đoạn ấy. Cô em đồng ý, nhưng nói bảng ấy không thay việc người trực quan sát tấm ván và dây.
Dư An đến thăm bác giữ dây rồi ghé từ đường. Ông thấy có thêm khách hỏi đường, đề nghị để sẵn một chiếc ghế ở hiên cho người cần chờ, nhưng không đặt chắn cửa phòng trực. Bà Mạnh đồng ý; người nhà ông giữ danh sách giúp kê chiếc ghế cũ. Bảo đặt thêm bình nước, hỏi Tín có đủ nước cho bếp không. Tín bảo có thể đun thêm, nhưng ai nhận thay khi anh ra giếng lấy nước phải nói trước.
“Con lấy cho,” Bảo nói.
Hắn mang hai thùng đến giếng riêng sau nhà gần đó, không lấy ở khu đang trông dây. Chủ nhà đồng ý cho dùng, còn dặn giữ lại một thùng cho nhà mình. Hắn múc chậm hơn lần trước; một thùng chỉ sóng ra vài giọt. Về đến sân, hắn gặp người chở hàng quay lại từ đầu đường.
Bảo tưởng hai phong bì có vấn đề. Anh nói xe bị gãy một thanh gỗ, chưa ra khỏi vùng làng; anh về lấy đồ sửa. Hai lá thư vẫn trong túi khô, anh định đi tiếp khi sửa xong. Hắn hỏi có cần người giúp không. Hổ đến xem, nói thanh gỗ có thể thay bằng miếng có sẵn ở nhà anh, nhưng cần đo trước.
Người chở hàng đồng ý. Họ đặt xe sang mép đường, không chắn lối qua giếng. Hổ lấy thước, đo rồi về lấy miếng gỗ. Trong lúc chờ, anh chủ xe xin nước. Bảo đưa bát ở hiên. Anh uống, nói có thể tới trạm muộn hơn một ngày nếu phải chờ mối nối khô.
Ông Thuận sửa bản ghi: xe đã xuất phát nhưng quay lại sửa, hai thư còn với người chở. Anh xem rồi đồng ý. Bảo thấy ngực mình chùng xuống; hắn muốn điện nhận thư sớm, muốn người ở trạm xem hình bến đò. Nhưng một chiếc xe không thể vì hắn muốn mà chạy với thanh gỗ gãy.
Hổ thay thanh, thử đẩy xe rỗng một quãng. Bánh lăn nhưng mối buộc cần chỉnh thêm. Người chở hàng nói tối nay sẽ để xe ở nhà, sáng mai tự kiểm tra lại rồi đi nếu ổn. Anh mang thư theo, hứa nếu không thể đi sẽ báo để mọi người tìm cách khác.
Thôi thúc gửi lời qua người chăm ông: bảng chỉ lối không cần thêm hình dao. Bảo ngạc nhiên, hỏi sao ông nghĩ hắn định vẽ dao. Bà nói ông đoán, vì hôm trước hắn vẽ cây giống chổi, một con dao có thể thành chiếc đũa. Hắn bảo lần tới sẽ nhờ cô em vẽ hộ. Bà cười, nhận bát canh rồi về.
Tối, bà Mạnh xem bảng trước khi rời từ đường. Bà đi qua ván cùng người chị bác giữ dây, hỏi cô có thấy lối ấy đủ rộng không. Cô bảo một người đi được, hai người mang đồ phải nhường nhau; nếu xe lớn đến, cần chọn đường khác. Bà nhờ Tín thêm dòng ấy dưới bảng vào sáng mai.
Bảo nhận ca sau Hổ. Ngọn đèn vẫn cháy, mực nước chưa xuống rõ. Hắn ghi việc đã sửa lối qua giếng và xe chở thư phải quay về, rồi đọc lại cho Hổ nghe. Anh bảo thêm tên người đã nhận trông khi cô em về ăn. Hắn viết vào sổ trực riêng, không đưa tên lên bảng ngoài cổng.
Đêm xuống, Ô Kê đứng ở đầu tấm ván mới rắc cát. Nó bước một chân lên, thấy cát dính vào móng thì nhấc ra, lắc mạnh. Bảo bật cười, đặt ít thóc ở phía khô. Con gà đi vòng qua rổ lá, không bước vào rãnh.
Hắn nhìn tấm bảng với hình bàn chân, rồi nhìn con đường dẫn ra chợ. Người lạ vẫn có thể đến, thư vẫn phải đi tiếp, và ngày mai có thể lại có mưa. Nhưng hôm nay người trông giếng đã chỉ được một lối qua, người bán hàng biết phải hỏi chủ chỗ, còn Thôi thúc đã nghe tin quầy của ông vẫn có người tìm đến.