Chương 440: Cuộc Gặp Ở Nhà Trạm
Ngày hẹn, Thanh Nghi buộc kiếm bên hông, rồi tháo ra đặt lên bàn.
Bảo đang chia bánh vào hai gói lá. Hắn nhìn nàng một lúc mới hỏi: “Cô đổi ý rồi à?”
“Không. Ta đang nghĩ nên để nó ở đâu.”
Hai hôm trước, thư trả lời từ nhà người ký đã đến. Ông đồng ý cho nàng dẫn một người cùng dự cuộc gặp. Ông nói muốn xem dấu trên chuôi kiếm, không yêu cầu nàng giao kiếm ngay tại trạm. Ông cũng viết sẽ chưa phái người thực hiện lệnh trước cuộc gặp, còn sau đó sẽ báo quyết định bằng thư.
Thanh Nghi đã đọc thư cho Bảo và bà Mạnh nghe. Nàng vẫn chưa hài lòng: lời hứa dừng ở ngày gặp, còn việc kiểm tra có thể biến thành một cuộc tranh chấp nếu ông đòi lấy kiếm. Hôm qua nàng đã nhờ người trạm chuyển tin rằng mình có thể cho ông nhìn dấu, nhưng không đồng ý giao kiếm. Nếu điều kiện ấy khiến cuộc gặp không thực hiện được, xin báo trước.
Sáng nay chưa có thư khác.
“Ta sẽ mang,” nàng nói, buộc kiếm lại. “Nếu ông ấy đòi lấy, ta sẽ từ chối. Ta không muốn để chuyện đó xảy ra mà không ai ở cùng.”
“Ta đi với cô.”
Nàng gật đầu. Hắn cột hai gói bánh, một gói nhét vào túi áo mình, gói kia đưa nàng. Nàng nhìn chiếc bánh phồng lên dưới lớp lá.
“Có nhân gì?”
“Đậu. Tín làm.”
“Đệ ấy đã ăn thử chưa?”
“Rồi. Ta đã đợi một lúc trước khi gói.”
Tín ở ngoài cửa nghe thấy, giơ chiếc vá gỗ lên. “Đệ nấu cháo một lần khét mà huynh nhớ mãi.”
“Nhờ đệ, ta nhớ cả mùi.”
Hổ nhận ca ngoài giếng thay Bảo. Trước khi đi, Bảo cùng anh kiểm tra chỗ đặt nồi, dấu dây và sổ trực. Chiếc nồi vẫn ở vị trí cũ. Người chị nhà bác giữ dây nói buổi chiều cô em sẽ đến đổi cho Hổ; nếu có tin mới từ nhà trạm, Thanh Nghi có thể báo sau khi trở về. Không ai đề nghị mang nồi đi.
Đường ra trạm khô ở giữa, hai bên còn bùn. Thanh Nghi đi nhanh hơn thường lệ. Đến đầu cầu, nàng bỗng dừng lại kiểm tra nút buộc vỏ kiếm. Bảo đứng chờ. Một người gánh hàng đi qua, hỏi họ có cần nhường đường không. Nàng lắc đầu, kéo hắn sang bên rồi mới tiếp tục.
“Ông ấy từng dạy ta buộc nút này,” nàng nói. “Ông bảo đi đường dài, vỏ kiếm va vào chân dễ làm người ta mất thăng bằng.”
“Có đúng không?”
“Có. Lúc ấy ta không tin, cố chạy xuống dốc rồi ngã.”
Bảo nhìn đôi giày dính bùn của nàng. “Hôm nay ta tin ông ấy hộ cô.”
Thanh Nghi cười nhẹ, nhưng khi nhà trạm hiện ra, nàng lại đặt tay lên chuôi kiếm.
Người ký lệnh đã đến. Ông ngồi ở gian trong cùng một người chép việc của gia tộc. Chủ trạm đón hai người, chỉ một chiếc bàn có bốn chỗ ngồi, rồi lui ra phía ngoài. Trên bàn là ấm trà và một tập giấy được buộc riêng.
Thanh Nghi chào trước. Ông đứng dậy, gọi tên nàng. Gương mặt ông già hơn trong ký ức nàng, nhưng giọng nói vẫn rõ và ngắn. Nàng giới thiệu Bảo; ông gật đầu, không đề nghị hắn rời phòng.
“Ta đã nhận lời nhắn về thanh kiếm,” ông nói. “Cô có thể để nó trên bàn cho ta xem dấu không?”
“Ta sẽ giữ kiếm. Ông có thể nhìn từ đây.”
Ông nhìn nàng, rồi đưa tay ra hiệu. Thanh Nghi nghiêng chuôi kiếm về phía ánh sáng, giữ cả chuôi lẫn vỏ. Ông cúi xuống quan sát dấu khắc và hỏi nàng có từng thay chuôi không. Nàng đáp chưa. Người chép việc ghi lại, đọc câu ấy cho nàng nghe. Nàng xác nhận đó là điều mình vừa nói, không xác nhận bất cứ nhận định nào khác về thanh kiếm.
Ông ngồi xuống. “Ta giao việc cho cô vì cô biết dùng kiếm và từng làm theo lệnh gia tộc. Cô nói vật ấy thuộc về người khác, còn ta được báo nó có liên quan đến một mối nguy.”
“Ông được ai báo?” Thanh Nghi hỏi.
“Bản báo đầu không có tên người chứng kiến. Ta đang tìm người đã chuyển tin. Ta không nên giả vờ đã thấy tận mắt.”
Ông mở tập giấy, lấy ra một bản chép tờ báo. Trên đó nói chiếc nồi xuất hiện gần nơi có việc bất thường ở giếng, và đề nghị tìm cách chấm dứt mối liên quan. Không có dòng nào giải thích vì sao chém nồi sẽ làm được điều ấy. Bảo đọc qua một lượt, hỏi có thể xem mặt sau không. Ông đưa tờ giấy; mặt sau chỉ có dấu xác nhận sao chép.
“Ta không đồng ý chém nồi,” Thanh Nghi nói. “Ta đã nói trong thư. Hôm nay ta nói lại trước mặt ông.”
Ông hỏi liệu nàng từ chối vì tin chiếc nồi vô hại. Nàng đáp nàng không biết đủ để khẳng định nó vô hại. Nhưng nàng cũng không có căn cứ để tin chém nó sẽ bảo vệ người ở làng. Ông im lặng, xoay tách trà một vòng.
Bảo đẩy bản chép về phía ông. “Nồi là của ta. Ta không cho mang nó đi hay chém nó để thử. Nếu ông muốn hỏi điều ta từng thấy, ta sẽ trả lời phần ta biết.”
Người ký lệnh nhìn hắn. “Anh đã thấy điều gì?”
Bảo kể những việc hắn có thể tự nói: chiếc nồi đang được giữ ở làng; việc quan sát giếng có người nhận ca; hắn không biết cách cắt mối và không biết chuyện chém nồi sẽ gây ra gì. Khi ông hỏi về các lời kể cũ, hắn nói có thể có người khác biết thêm, nhưng họ phải tự quyết có kể hay không. Hắn không đưa tên những người chưa đồng ý.
Người chép việc hỏi có thể ghi lời Bảo không. Hắn đồng ý với điều kiện được nghe đọc lại. Đến câu “chiếc nồi không gây nguy hiểm”, Bảo ngắt lời.
“Ta không nói vậy. Ta nói ta chưa biết chém nó sẽ gây ra gì.”
Người chép gạch câu đó, viết lại và đọc từ đầu. Lần này Bảo đồng ý. Hắn không ký thay ai ở làng.
Thanh Nghi hỏi về câu ghi bên lề của Lục Hòa. Ông đáp đã gặp bà, biết câu đó dựa trên một lời kể và không phải giấy cho phép chém nồi. Ông muốn tìm người từng kể, nhưng Lục Hòa chưa cung cấp tên. Nàng nói bà ấy có quyền giữ điều người kể chưa đồng ý chia sẻ.
“Ta biết bà ấy nghĩ thế,” ông nói. “Nhưng nếu có người đang gặp nguy hiểm, đợi đủ từng lời đồng ý cũng có thể quá muộn.”
“Vậy ông phải cho ta biết ông thấy nguy hiểm nào,” Thanh Nghi đáp. “Ông sai ta chém trước khi biết chiếc nồi là gì, cũng chưa hỏi người giữ nó. Ta không nhận việc ấy.”
Ông đặt tay lên tập giấy. “Ta đã nghĩ cắt vật liên quan sẽ ngăn chuyện lan rộng. Bản báo khiến ta tin phải hành động nhanh.”
“Bản báo không nói chém sẽ có tác dụng.”
“Phải. Đó là suy đoán của ta.”
Lời thừa nhận đến chậm hơn nàng mong. Thanh Nghi nhìn người từng dạy mình buộc kiếm, nhớ bàn tay ông giữ vai nàng khi nàng ngã xuống dốc. Nàng muốn hỏi vì sao lần này ông không hỏi nàng trước. Cuối cùng nàng hỏi đúng điều đó.
Ông nhìn vết mực trên ngón tay người chép việc. “Ta nghĩ nếu giải thích lâu, cô sẽ đi chậm. Ta sai ở chỗ ấy.”
“Ông cũng sai khi coi việc ta mang kiếm nghĩa là ta phải chém bất cứ thứ gì ông chỉ.”
Ông không đáp ngay. Ngoài sân, tiếng guốc của chủ trạm đi qua, rồi xa dần. Bảo nhìn Thanh Nghi; nàng ngồi thẳng, bàn tay giữ vỏ kiếm nhưng không rút ra.
“Ta chưa đồng ý rằng không cần làm gì,” ông nói. “Nhưng ta sẽ rút lệnh chém chiếc nồi. Ta cần tìm thêm người biết chuyện trước khi quyết định việc khác.”
Thanh Nghi hỏi ông có thể viết điều đó và gửi đến làng không. Ông đồng ý viết ngay, còn việc gửi bản cho làng thì nhờ chủ trạm chuyển. Người chép việc lấy giấy mới. Ông đọc từng câu: lệnh giao Thanh Nghi chém chiếc nồi được rút; chưa giao ai thực hiện việc ấy; nếu có quyết định khác liên quan đến làng, gia tộc sẽ thông báo trước qua trạm. Bản viết không nói mọi nguy cơ đã hết.
Bảo hỏi: “Nếu có quyết định khác, người ở làng có thể từ chối hay hỏi lại không?”
“Ta không thể hứa mọi người trong gia tộc sẽ đồng ý với họ,” ông đáp. “Nhưng họ có thể gửi câu hỏi cho ta. Ta sẽ nhận.”
Bà Mạnh từng muốn biết làng sẽ được báo thế nào. Thanh Nghi nhờ ghi thêm tên người nhận thư ở trạm và địa chỉ để hồi đáp. Ông chấp nhận. Người chép đọc lại toàn bộ, sau đó ông ký tên. Thanh Nghi nhận bản dành cho mình; bản gửi làng được chủ trạm nhận trước mặt cả ba.
Ông nhìn thanh kiếm. “Ta vẫn muốn cô trở về gia tộc một lần.”
“Ta chưa quyết định,” nàng nói. “Hôm nay ta không giao kiếm.”
Ông gật đầu, không đưa tay ra nữa. Ông cũng không hứa sẽ thôi hỏi về chiếc nồi. Cuộc gặp kết thúc ở đó, với một lệnh được rút và nhiều điều chưa rõ.
Trên đường về, Bảo lấy bánh ra. Nhân đậu đã nguội, hơi cứng, nhưng ăn được. Thanh Nghi bẻ một nửa, ngồi xuống đầu cầu cạnh hắn. Nàng nhìn tờ giấy có chữ ký rồi cẩn thận gấp lại.
“Cô có vui không?” Bảo hỏi.
“Có.” Nàng cắn một miếng bánh. “Và ta vẫn giận.”
“Được cả hai mà.”
Nàng nhìn hắn, rồi gật đầu. Dưới cầu, dòng nước sau mưa chảy đục. Họ ăn xong mới đứng dậy, mang thư về để những người ở làng tự đọc điều đã thay đổi.