Chương 455: Người Mang Thẻ Ca
Người đến làng ba ngày sau không mang dấu của Thiên Mệnh Điện.
Bà mặc áo vải màu đất, đội nón rộng, tự dẫn một con la gầy qua cổng. Hai bên yên có hai túi hàng buộc bằng dây thừng. Một túi đựng muối, túi kia đựng ba chiếc đèn đồng đã tháo tim. Bà dừng trước quán, hỏi có thể đổi muối lấy gạo không.
Tín đang mua hành ở đó, nghe người chủ quán hỏi bà từ đâu tới. Bà nói đi qua trạm phía đông, mất thêm một ngày vì đường cũ bị sạt. Bà không nói mình đến tìm ai. Chỉ sau khi đổi xong, bà mới lấy trong túi áo một mảnh giấy gấp, hỏi trạm trong làng ở đâu.
“Ở từ đường có người nhận thư,” Tín nói. “Bà tìm ai?”
“Bà Mạnh. Ta được nhờ đưa cái này.”
Cậu dẫn bà đi qua con đường đất mới khô. Trước cổng từ đường, bà tháo nón, để con la cho Tín buộc vào cọc. Bà giữ túi đèn trên vai. Cô em nhà bác giữ dây đang trực, hỏi bà muốn gặp chuyện gì. Bà đáp chỉ cần đưa thư, nếu bà Mạnh không ở đó thì có thể đợi.
Bà Mạnh đến sau một lúc. Người khách tự giới thiệu tên Liên và đưa giấy. Đó là thư của Tề, nói Liên mang một bản tóm tắt từ nơi đang báo thiếu phần. Tề viết ông không đi cùng vì đang ở trạm khác; bà Liên có thể tự nói phần việc của mình. Ông không yêu cầu làng phải giao nồi hay đưa danh sách người trực.
Bà Liên lấy từ túi áo một thẻ gỗ có lỗ xỏ dây. Trên thẻ khắc hai đường ngang và một dấu nhỏ ở góc. Bà đặt nó trước mặt bà Mạnh.
“Ta nhận lượt ở một cửa gần vùng biển. Thẻ này là để người thay nhận biết đã đến giờ đổi.”
Bảo vừa tới, nhìn chiếc thẻ. Nó không giống thẻ ba rãnh của bà Lê ở bến cũ. Hắn hỏi bà có phải người đã báo phần đến chậm không.
“Ta là người mang bản báo từ chỗ trực tới trạm. Người viết là anh ta, hiện vẫn ở đó.”
“Bà có tên nơi ấy trong giấy không?”
“Có. Nhưng ta muốn hỏi trước: nếu ta đưa bản chép, các người có chuyển tiếp cho ai không?”
Bà Mạnh nói làng cần người đang nhận ca cùng đọc, còn việc gửi ra ngoài sẽ hỏi bà trước. Bà Liên đồng ý. Bà mở một tờ giấy có dấu nước ở góc, đặt lên bàn.
Bản báo ghi một cửa ở vùng ven biển, bát đo đã xuống thấp hơn dấu thường dùng ba lượt liên tiếp. Phần cấp cho một xóm ở gần đó tới chậm; người trực đã báo điện và đang giữ lại phần tối thiểu cho chỗ có người bệnh. Tờ giấy ghi số lần chậm, không ghi tổng số người thiếu ăn.
“Chúng tôi vẫn có gạo,” bà Liên nói. “Người ta không ngồi đó chờ một chiếc nồi nấu cơm. Nhưng có việc khác: mấy người làm ở cửa giữ lửa yếu dần, một người vừa nghỉ mà chưa có người thay.”
Bảo nhìn Tín. Cậu đã hỏi nếu ở cửa khác có người đói thì họ có phải chờ không. Bây giờ có một người từ nơi ấy ngồi trước mặt; chuyện vẫn chưa đơn giản thành một bát cơm có thể mang đi.
Hổ hỏi bà Liên đã nghỉ ca được chưa. Bà đáp người khác nhận thay ba ngày, còn bà đi đường mất gần hết chừng ấy. Nếu trở về muộn, bà sẽ gửi tin để họ biết không cần chờ mình đúng giờ. Người chị nhà bác giữ dây hỏi nếu người thay cũng không đủ sức thì làm sao. Bà nói họ có một người dự phòng, nhưng người ấy còn phải chăm mẹ; việc đổi lượt không thể cứ lấy tên trong sổ mà xếp.
Thanh Nghi mang bút ghi câu hỏi của mọi người và câu trả lời của bà. Bà Liên đọc lại, sửa chữ *thiếu ăn* thành *phần đến chậm*, vì bà chưa thể đại diện nói cho cả xóm. Bà Mạnh hỏi bà đã ăn trưa chưa. Bà đáp chưa; bữa sáng chỉ có một chiếc bánh.
Tín đưa bà vào bếp. Trong lúc cậu hâm cơm và canh, Bảo lấy nước cho con la. Nó uống gần hết xô, rồi ngẩng lên hất nước vào áo hắn. Hắn nhìn túi muối trên yên, dời ra xa vũng nước. Con la chồm theo, hắn phải xin người chủ giúp buộc lại cho chắc.
Bà Liên ăn hết bát cơm, xin thêm ít canh. Bảo ngồi đối diện, hỏi vì sao bà đồng ý mang tin đến Lạc Kê.
“Ta có chuyến đi đổi hàng gần trạm. Tề nói người ở đây hỏi cụ thể về nơi thiếu phần. Ta muốn tự kể để khỏi phải đợi người khác diễn giải.”
“Bà muốn chúng con mang nồi tới đó không?”
“Ta chưa thấy nồi, cũng không biết nó làm được gì cho cửa của ta. Ta muốn tìm người biết cách đối các dấu trong sổ. Người giữ sổ trước đã mất; chúng ta còn bản sao, có một cột không ai hiểu.”
Bảo nhớ đến Mộc. Hắn tưởng nếu thầy còn ở đây, ông sẽ hỏi xem cột ấy dùng dấu nào, rồi đòi một chỗ ngồi đủ sáng. Hắn đặt thìa xuống.
“Người biết đối dấu của chúng con vừa mất.”
Bà Liên nghe hắn kể Mộc Vô Nhai đã trở về, mang chìa và bản chép, rồi mất sau bữa cơm. Bà không nhận là mình biết ông. Bà chỉ hỏi những người ở Lạc Kê có muốn tiếp tục việc ông để lại không.
“Có,” Bảo nói. “Nhưng con không biết có giúp được bà không.”
“Ta cũng chưa biết. Ta mang bản chép một trang, nếu các người muốn nhìn.”
Trang bà đưa ra có cột ngày, phần cấp và người nhận. Bên mép có dấu nhỏ như hạt gạo, cạnh đó là một dòng bị gạch. Thanh Nghi đối với bản Mộc vừa viết trước khi mất. Hình dấu gần nhau, nhưng một dấu nằm trước số, một dấu nằm sau. Nàng chỉ sự khác biệt ấy.
Bà Liên kể người trực trước nói dấu đó dùng khi chưa đối xong, nhưng bà không biết họ học từ sổ nào. Bảo nhớ Mộc từng giải thích cách dùng trong sổ của ông, không khẳng định nó giống mọi nơi. Hắn hỏi bà có bản nào ghi rõ nghĩa của dấu không. Bà lắc đầu.
“Ta muốn biết dòng bị gạch có được tính lại không,” bà nói. “Một người bảo có, người khác bảo không. Nếu tính sai, sổ của chúng ta lệch.”
Bà Mạnh hỏi ai có thể quyết việc đối sổ ở cửa bà. Liên nói phải có người trực hiện tại và người giữ bản gốc cùng xem; bà chỉ mang bản chép. Bà không muốn ai ở Lạc Kê ghi một con số rồi bảo đó là đáp án.
Bảo đẩy trang giấy về phía bà. “Con có thể đi xem không?”
Thanh Nghi quay sang hắn. Hắn nói tiếp: “Con chưa mang nồi. Con muốn thấy sổ và hỏi người đang trực, rồi mới biết mình có giúp được không.”
Bà Liên nhìn hắn. “Đường xa, phải qua chợ và hai trạm. Ta không thể đưa các người đi ngay hôm nay. Nếu muốn đến, ta sẽ hỏi người giữ sổ và gửi lời mời.”
“Có thể đưa Thanh Nghi đi cùng không?”
“Nếu người ở đó đồng ý tiếp, ta sẽ hỏi cho cả hai.”
Bà Mạnh hỏi Bảo đã tính chuyện ca trực và tiền đường chưa. Hắn chưa tính. Hắn lấy túi ra, đếm mười sáu đồng tiền công còn lại, rồi để riêng đồng Mộc gửi dưới bát. Bà Liên nói chưa biết giá xe về tới đâu vì đoạn sạt phải đổi đường. Bảo không cất tiền ngay; hắn lấy giấy ghi số mình có, số có thể dành cho chuyến đi và một dòng trống cho tiền quay về.
“Đừng bỏ trống dòng về,” Tín nói.
“Ta chưa biết giá.”
“Vậy ghi chưa biết.”
Bảo viết thêm hai chữ ấy. Hổ bảo nếu hắn đi, mọi người có thể bàn lại lượt trực; anh không hứa thay hết, nhưng sẽ nhận phần anh làm được. Cô em nhà bác giữ dây nói cô cũng cần hỏi chị trước khi đổi ca. Bảo cảm ơn, không coi đó là lịch đã xong.
Bà Liên nghỉ ở quán đêm ấy. Trước khi đi, bà đưa địa chỉ trạm gần vùng biển và xin một bản chép câu hỏi về dấu. Thanh Nghi chép, bà xem và nhận. Bà không mang trang của Mộc; bản ấy ở lại làng.
Bảo tiễn bà ra cổng. Con la đã ăn cỏ, quay đầu nhìn hắn. Hắn đưa tay định vuốt, nó lại hất nước từ máng vào ống quần hắn. Bà Liên cười, bảo nó thường làm thế khi có người đứng gần thức ăn.
“Ô Kê cũng vậy,” Bảo nói.
“Vậy ngươi quen rồi.”
“Quen không có nghĩa là thích.”
Bà dắt la đi. Bảo đứng nhìn hai túi hàng đung đưa cho tới khi khuất ở đầu ngõ. Lần đầu tiên từ lúc điện hỏi về những cửa khác, hắn đã gặp một người đang nhận lượt ở đó. Bà không mang một lời giải, cũng không yêu cầu hắn gánh thay; bà có một cuốn sổ lệch và một chuyến đường phải quay về.
Tối ấy, Bảo mở tờ giấy trắng Mộc để lại. Hắn không viết kín trang. Ở góc trên, hắn ghi ba chữ: *Cửa gần biển*. Bên dưới, hắn kẻ một dòng cho người trực, một dòng cho phần đang chờ đối và một dòng cho tiền đường. Hắn để trống những chỗ chưa biết.
Ô Kê nhảy lên bàn. Hắn giữ mép giấy, lấy cho nó ít kê. Khi con gà cúi ăn, hắn gấp tờ giấy lại, đặt cạnh bản chép của Mộc.