Chương 462: Người Nhớ Vạch Cũ
Bảo thức dậy giữa tiếng gõ đều trên mái.
Không phải mưa. Một cành cây mắc vào dây buộc mái che, gió đưa nó chạm ngói. Hắn ngồi dậy, thấy Vĩnh đang ghi sổ dưới đèn. Ô Kê vẫn ngủ trong giỏ, chỉ có một mắt mở hé.
“Nước thế nào rồi?” hắn hỏi.
“Chưa xuống thêm rõ từ lượt trước.”
Vĩnh chỉ dòng vừa ghi, không nói rằng mực nước đã trở lại. Thanh Nghi thức sau đó, mang cho ông bát nước nóng. Ông uống một ít, nói còn đợi bà Liên đổi ca; khi bà tới ông sẽ về xem bàn tay bỏng.
Bảo ra hiên nhìn chiếc bát. Mực nước ở dưới vạch thấp, cạnh tấm đồng có một dấu mới bằng mực. Dưới chân bệ, sóng chưa tới mức cao nhất hôm qua. Hắn không chạm vào bát. Hắn nhớ mình từng muốn đem chiếc nồi đến ngay, và nhớ Thanh Nghi hỏi nồi có thể làm gì ở đây. Hắn vẫn chưa trả lời được.
Phong tới lúc trời vừa sáng. Thuyền dầu lớn đã vào bãi trong, người chở đang đưa chum còn lại tới kho. Ông Sửu nhờ hai người khuân hôm trước tới nhận; Bảo cũng có thể giúp khi cửa đã đổi ca. Phong mang theo một người nữa: một chàng trai xách chiếc ghế gấp và một túi vải.
“Cháu bà giữ sổ trước,” ông giới thiệu. “Bà đã nghe tin, muốn gửi cái này.”
Trong túi là một tờ giấy dày đã ố, trên đó vẽ tấm đồng có ba vạch. Nét bên dưới vạch thấp giống nét Thanh Nghi đã chỉ. Phía cạnh có một câu ngắn: *Lấy dấu khi bát còn đầy, đừng lấy lúc nước rút.*
Vĩnh đọc hai lần. “Bà ấy viết à?”
“Cháu không biết. Bà nói tờ này có từ trước lúc bà nhận sổ.”
Chàng trai tên Kha. Anh kể bà mình không đi được đường đá, nhưng nếu mang bản ghi đến nhà, bà có thể xem. Bà dặn mang cả tấm giấy có ba vạch, vì bà không nhớ chính xác nét nào được thêm sau.
Thanh Nghi hỏi có thể chép tờ này trước không. Kha đồng ý. Nàng ghi lại các nét và câu chữ, giữ nguyên vết đứt giữa hai chữ đã nhòe. Bảo nhìn bát nước trên hiên. Nếu dấu được lấy lúc bát đầy, các vạch có thể liên quan tới lượng ban đầu; nhưng hắn không biết lúc đó người ta đổ đầy bằng gì, cũng không biết có thể thêm nước vào bát hay không.
“Bà có nói phải làm gì khi xuống dưới vạch không?” hắn hỏi.
“Bà bảo đừng làm gì vội. Mang sổ đến cho bà xem.”
Bà Liên tới nhận ca. Vĩnh chỉ mực nước, kể chuyện trong đêm và tờ giấy Kha mang đến. Bà Liên ký nhận, bảo Vĩnh về nghỉ một lượt. Ông định đi cùng tới nhà bà cụ, nhưng bà Liên nhìn bàn tay ông và nói sẽ gọi nếu cần. Ông chần chừ, rồi giao sổ cho bà, không mang theo.
Bảo và Thanh Nghi theo Kha vào bờ. Phong để họ ở bãi gần kho; anh cần quay lại chở người trực dự phòng. Bảo hỏi có thể giúp khuân dầu trước khi đi không. Ông Sửu nói hai người của kho đã nhận việc, phần còn lại sẽ được đo khi họ đưa chum về. Hắn không đứng chờ để xin thêm việc; Kha dẫn họ qua một con ngõ hẹp đến nhà bà mình.
Bà cụ ngồi trên giường, chăn phủ ngang chân. Trước mặt bà là chiếc rổ đựng dây và vài miếng gỗ mỏng. Bà giới thiệu tên Hạnh, hỏi Bảo có phải người từ Lạc Kê không. Hắn đáp phải, rồi đặt bản ghi mực nước lên bàn.
Bà Hạnh đọc chậm. Đến dòng nước xuống dưới vạch thấp, bà hỏi bát có bị dịch khỏi vòng gỗ không. Thanh Nghi kể họ chưa thấy nó xê; người trực kiểm phía ngoài, không nhấc bát. Bà gật, xin xem hình tấm đồng nàng vừa chép.
“Nét ngắn này do ta thêm,” bà nói. “Không phải để chỉ mực nước.”
“Vậy nó chỉ gì ạ?” Bảo hỏi.
“Chỉ phía có khe thoát. Nếu phải chuyển tấm đồng để lau muối, đặt lại đúng hướng ấy. Có lần người trước lắp ngược, người mới đọc nhầm vạch.”
Bảo nhìn hình, rồi nhớ tấm đồng hiện đặt với nét ngắn hướng ra ngoài hiên. Hắn hỏi khe thoát ở đâu. Bà Hạnh chỉ về phía bên trái theo hướng từ trong nhà nhìn ra biển. Bảo không dám kết luận tấm đồng đang ngược; hắn phải trở lại xem từ cùng một vị trí.
“Bát có khi nào xuống dưới vạch rồi lên lại không?” Thanh Nghi hỏi.
“Có. Một lần sau khi đường dẫn bị nghẽn, chúng ta dọn chỗ hứng nước và kiểm lại. Nhưng ta không biết lần này có giống không.”
“Đường dẫn nước vào bát?” Bảo hỏi.
“Ta không mở bát ra xem. Chỗ hứng ở phía dưới bệ, nước từ đó đi đâu thì người làm trước biết rõ hơn. Ta chỉ biết khi lưới ở chỗ hứng bị lá và rong bịt kín, nước có thể thay đổi.”
Bà dặn họ đừng leo xuống bệ khi sóng còn mạnh. Việc đầu tiên là hỏi người biết bãi đá xem khi nào kiểm được từ lối dưới. Kha nói anh từng giúp thay lưới chắn rong, có thể dẫn người trực đi khi nước rút, nhưng hôm nay anh phải đưa bà đi lấy thuốc. Anh muốn biết việc có thể chờ đến chiều không.
Bảo định nói không chờ được. Thanh Nghi hỏi trước: “Nếu anh đi lấy thuốc, ai biết lối dưới bệ?”
“Phong biết. Ông ấy đưa lưới cho tôi lần trước.”
Nàng nói sẽ hỏi Phong, còn Kha cứ đưa bà đi. Bà Hạnh lấy từ rổ một miếng gỗ mỏng có hai vạch, bảo Kha mang theo để chỉ cho Phong loại lưới cũ. Anh cầm lấy, dặn bà uống hết bát nước trước khi lên xe.
Trên đường về bãi, Bảo nhớ điều bà Hạnh nói về nét ngắn. Hắn muốn chạy trước, nhưng Thanh Nghi giữ bản chép trong túi và nhắc nếu lối đang ngập, chạy cũng không qua được. Hắn đi nhanh hơn một chút, đến bến vừa lúc Phong đưa thuyền vào.
Nghe họ kể, Phong nhìn miếng gỗ Kha đưa. Ông xác nhận từng giúp thay lưới ở chỗ nước đi qua dưới bệ, nhưng lần ấy ông chỉ chuyển lưới và giữ dây; người của cửa tự quyết chỗ đặt. Hôm nay nước đang xuống, ông có thể chở Vĩnh hoặc bà Liên tới lối dưới, xem từ thuyền trước khi ai bước lên đá.
“Con có thể đi không?” Bảo hỏi.
“Thuyền chở hai người với ta. Nếu Liên cần ngươi ghi, ngươi đi; còn không, ở trên hiên nhìn dấu nước cũng có ích.”
Tại căn nhà mái đen, bà Liên nghe xong liền xem tấm đồng từ cửa trong. Nét ngắn hiện hướng về phía biển, còn khe thoát nằm bên trái như bà Hạnh nhớ. Bà lật bản ghi cũ: cách đây ba lượt có một lần tấm đồng được tháo để lau muối. Người lau ghi đã đặt lại, không ghi hướng.
Vĩnh vừa trở lại sau khi thay thuốc, đọc dòng ấy rồi nhìn bà Liên. “Nếu tấm đồng ngược, vạch thấp có còn ở đúng độ cao không?”
Bà đặt thước cạnh tấm đồng. Nó có ba vạch nằm ngang, nhưng hai đầu tấm đồng khác độ cao một chút vì bệ không phẳng. Khi đổi đầu, vạch thấp sẽ xê theo. Họ chưa xoay tấm đồng; bà Liên lấy thước đo khoảng cách giữa mặt bát và từng vạch, ghi số theo vị trí hiện tại.
“Có thể ta đã báo dưới vạch thấp sớm hơn,” Vĩnh nói.
“Nhưng mặt nước vẫn xuống so với dấu các lượt trước,” Thanh Nghi nhắc.
“Đúng.” Ông sửa câu trong bản ghi: vị trí vạch cần kiểm lại, còn việc nước giảm qua các lượt vẫn là điều người trực thấy.
Bà Liên hỏi Phong có thể cùng bà xem chỗ hứng dưới bệ không. Ông đồng ý khi nước xuống thêm. Bảo ở lại trên hiên với Vĩnh, nhận quan sát bát trong khi ông đối bản ghi cũ. Hắn không tự nhận ca; người trực vẫn ở bên cạnh, còn hắn cầm bút giúp vì tay ông đang băng.
Khi thuyền vòng xuống dưới, Bảo không nhìn thấy họ. Hắn chỉ nghe tiếng Phong gọi khoảng cách và tiếng bà Liên đáp. Mực nước trong bát không thay đổi rõ trong lúc ấy. Một hồi sau, Phong gọi lên rằng lưới chắn có nhiều rong mắc, nhưng chưa thể biết nó là nguyên nhân duy nhất.
Bà Liên xin người trực cho kéo lưới lên làm sạch. Vĩnh hỏi nếu rút lưới, có gì lọt qua không. Phong nói ông có một tấm thay trên thuyền; họ có thể đặt tấm mới trước rồi mới nhấc tấm cũ. Người trực đồng ý sau khi hỏi rõ cách giữ dây. Bảo ghi giờ bắt đầu, Thanh Nghi đứng ở cửa nhìn bát.
Họ làm mất gần một khắc. Khi lưới cũ được kéo lên, rong phủ kín gần nửa mặt. Bà Liên giữ nó trong rổ để người khác xem; bà không ném ngay xuống biển. Tấm mới được buộc vào chỗ cũ, Phong kiểm dây rồi đưa bà lên bờ.
Bảo nhìn mặt nước. Một vệt nhỏ rung lên, nhưng hắn không biết vì gió hay vì nước đổi. Người trực đợi thêm một lúc, đo lại bằng thước. Mực nước đã cao hơn dấu mới một ít; vẫn dưới vạch thấp hiện tại. Họ ghi số đo, không nói cửa đã hồi phục.
“Ít nhất chúng ta biết có chỗ bị nghẽn,” Vĩnh nói.
“Và biết lưới đã được thay lúc nào,” bà Liên thêm.
Họ gửi tin bổ sung cho Tề và Lạc Kê: nét ngắn trên tấm đồng là dấu hướng theo lời bà Hạnh; tấm đồng có thể đã được đặt ngược; lưới dưới bệ có rong và đã thay; sau đó nước nhích lên một ít. Họ hỏi điện có bản hướng dẫn nào về việc đặt lại tấm đồng hay không. Bảo ký dưới phần mình chứng kiến, Thanh Nghi ghi lời bà Hạnh có nguồn riêng.
Trước bữa tối, ông Sửu mang tin chum dầu còn lại đã vào kho. Lượng cân được thấp hơn số dự kiến nửa bát, đúng phần họ đã ghi chờ đo. Người chở nói có thể hao lúc sang chiết, nhưng ông không khẳng định. Hai bên đối sổ, thống nhất ghi lượng thực nhận và giữ lại câu hỏi về chênh lệch cho lần bàn sau.
Bảo nhận một bát cơm của kho vì đã giúp ghi và khuân hôm trước; hắn hỏi có phải trả thêm không, ông Sửu nói đã tính vào công. Ô Kê được thả ra ngoài sân, tìm thấy một hạt thóc trong khe đá. Hắn ngồi ăn cạnh Thanh Nghi, nhìn mặt biển đã dịu hơn buổi sáng.
“Con suýt bảo Kha bỏ chuyến đưa bà đi lấy thuốc,” hắn nói.
“Nhưng con đã hỏi thêm.”
“Lần sau con vẫn có thể vội.”
Nàng đưa hắn bát canh. “Vậy lần sau hỏi tiếp.”
Bảo ăn hết, vẫn đói. Hắn cầm tờ giấy có hình ba vạch, đưa lại cho Kha khi anh quay về chiều muộn. Anh nhận, cảm ơn họ đã không đợi mình mới xem lưới. Phía ngoài hiên, người trực mới bước tới bát nước, đặt thước xuống và ghi giờ.