Chương 464: Nút Dây Không Cũ
Ninh đặt sợi dây lên một chiếc đĩa, không tháo nút.
Kha nhìn qua rồi lắc đầu. “Nút tôi buộc lần trước không như vậy.”
Bà Hạnh ngồi cạnh cửa sổ, tay đặt trên đầu gối. Bà bảo cháu cầm đĩa lại gần. Nút dây nhỏ, có hai vòng siết sát nhau; một đầu còn dính muối, đầu kia xơ ra.
“Dây này không phải dây ta để lại,” bà nói. “Nhưng ta đã lâu không xuống bệ. Có thể người sau thay.”
Ninh hỏi bà nhớ gì về cách buộc lưới cũ. Bà dùng sợi dây trong rổ làm mẫu: một vòng qua khung, một vòng giữ, để khi nước kéo mạnh nút không tuột mà vẫn tháo được. Kha bảo mình làm theo cách ấy khi thay lưới cùng Phong.
“Có ai khác từng thay sau anh không?” Thanh Nghi hỏi.
“Có thể. Tôi không ở đó mọi lượt.”
Bảo nhìn sợi dây trên đĩa. Nếu ai đó thay, có thể họ chỉ buộc khác. Hắn hỏi bà Hạnh đã từng thấy nút hai vòng ở nơi nào chưa. Bà nhìn thêm một lúc, rồi nói người chở hàng hay buộc như vậy để giữ bó nhỏ, nhưng nhiều người cũng biết nút ấy. Bà không đoán ai đã làm.
Ninh chép lại cách bà vừa chỉ, xin phép giữ sợi dây tới khi đối với sổ sửa lưới ở cửa. Bà Hạnh đồng ý. Kha đưa cho Bảo miếng gỗ hai vạch hôm trước để hắn cầm khi trở lại. Anh ở nhà giúp bà lấy thuốc, hẹn chiều sẽ đến nếu đường nước thuận.
Trên đường ra bãi, Bảo hỏi Ninh: “Nếu dây mới mắc vào lưới, có thể vì thế mà nước xuống không?”
“Có thể dây làm lưới xê, cũng có thể nó chỉ mắc lại khi nước kéo rong vào. Ta muốn xem chỗ buộc và ngày người trực ghi đã sửa.”
“Bà có dụng cụ đo phần. Nó đo được nguyên nhân không?”
“Không. Nó cho ta một con số. Ta phải biết con số ấy được lấy ở đâu và lúc nào.”
Hắn nghĩ đến chiếc cân ở kho. Cân cho số dầu trong bình, nhưng không nói dầu đã rơi trên đường hay người ta đong thiếu từ đầu. Mộc từng dạy hắn đo đáy; ông không nói chỉ cần nhìn đáy là biết ai đã ăn.
Ở căn nhà mái đen, Vĩnh mở sổ sửa lưới. Ba lượt trước có ghi *đã kiểm*, không ghi thay. Gần một tháng trước đó có dòng thay dây do dây cũ sờn, bên cạnh là tên một người phụ việc ở cửa. Người ấy vừa đi đưa hàng, chưa về.
Bà Liên lấy bản vẽ khe nước. Bà chỉ vị trí Phong và Ninh nhìn thấy dây; nếu dây được buộc vào lúc thay trước thì người làm có thể biết. Ninh hỏi có thể xem dây thay còn dư không. Vĩnh tìm trong hộp dụng cụ một cuộn dây màu sẫm, sợi to hơn dây trên đĩa. Nhưng ông nói có thể họ từng dùng cuộn khác đã hết.
Bảo đề nghị đặt hai sợi cạnh nhau để khi người phụ việc về tự xem. Vĩnh làm theo, gói riêng sợi tìm được dưới lưới, không cột chung vào cuộn. Thanh Nghi ghi màu, độ dày và vị trí tìm thấy. Họ không viết rằng có người phá lưới.
Ngoài hiên, mực nước đã lên thêm so với dấu sau khi thay lưới, nhưng vẫn thấp hơn vạch giữa. Bà Liên đọc số cho Vĩnh ghi. Ninh lấy từ hộp một ống đo bằng đồng, đặt cạnh bát, xin người trực cho đo mà không đụng vào nước. Khi bà đưa ống lại gần, một đường mờ hiện trên mặt đồng rồi tắt.
Bảo nhìn chằm chằm. “Nó hiện chữ à?”
“Không. Chỉ là vạch báo ống đã nhận được mức gần bát.” Ninh cho hắn xem mặt ống sau khi lấy ra; trên đó có một dấu rất nhỏ. “Ta phải đo lại vào lượt sau. Một lần không đủ.”
Nàng đặt ống vào hộp, ghi giờ. Vĩnh hỏi con số có thể đổi thành lượng phần được cấp không. Ninh đáp chưa; ống đo mức tương đối so với dấu riêng của cửa, không phải cân gạo hay dầu. Bảo thở ra, thấy nhẹ vì bà nói rõ điều dụng cụ không làm được.
Giữa trưa, ông Sửu mang đến một bát cơm và tin từ trạm. Tề đã đọc báo cáo sửa của bà Liên, đồng ý để bà Ninh làm việc tại cửa và hẹn sau khi có kết quả sẽ mời người trực tới cuộc gặp. Nhưng có một dòng khiến Vĩnh đặt bút xuống: điện muốn tạm dùng số liệu cũ để lập kế hoạch cấp phần cho tháng tới, vì chưa kịp đối hết.
“Nếu dùng số cũ, dòng bị gạch ở xóm gần đây sẽ được tính thế nào?” Bảo hỏi.
Ông Sửu chỉ bản tổng hợp: trước khi ghép phiếu, số cũ thấp hơn lượng hàng thật ông nhớ. Bà Liên đã gửi lời giải thích, nhưng nếu người lập kế hoạch chưa nhận hoặc không dùng, xóm có thể tiếp tục bị tính sai.
Ninh nói bà sẽ gửi lại bản đối chiếu cùng một dòng đề nghị không dùng số ấy cho tới khi nhận được xác nhận. Vĩnh hỏi ai quyết định lịch cấp tháng tới. Bà đáp người phụ trách ở trạm có thể điều chỉnh phần của chuyến đầu, còn bảng tổng do điện duyệt.
“Vậy ta đến trạm,” bà Liên nói. “Ta muốn gặp người điều chỉnh chuyến đầu.”
Bảo xin đi cùng. Bà hỏi hắn có đủ tiền ở lại thêm không. Hắn lấy tờ ghi tiền đường: sau khi trả bữa cơm thêm, hắn còn khoản về và ít tiền lẻ. Nếu ở thêm hai ngày mà không có việc, tiền ăn sẽ sát. Hắn không giấu.
“Con có thể hỏi ông Sửu xem còn việc ở kho.”
Ông Sửu bảo chiều cần người chuyển ba bao gạo từ nhà mái dột sang kho khô. Hắn nhận, thỏa thuận công trước. Thanh Nghi nói nàng sẽ cùng bà Liên đến trạm; nếu Bảo làm xong kịp, có thể gặp họ ở đó. Ninh gửi theo bản đo và mảnh giấy giải thích dòng bị gạch, để bà Liên quyết phần nào giao.
Bảo khuân hai bao đầu cùng người kho. Bao thứ ba vừa nhấc khỏi nền, một góc rách, gạo chảy thành vệt. Hắn giữ miệng bao, gọi người lấy thau. Họ hứng được phần lớn, nhưng một ít lẫn cát trên nền. Ông Sửu kiểm, nói số sạch có thể đổ lại sau khi sàng, phần lẫn cát để riêng. Bảo đề nghị trừ tiền công vì hắn đã nhấc mạnh.
“Đường khâu đã mục,” ông Sửu nói. “Ta cũng thấy mà chưa đổi bao. Cứ ghi việc này, đừng vội đổ hết lên đầu ngươi.”
Hai người nhận phần công đã hẹn. Bảo ăn bữa muộn ở kho, rồi chạy ra trạm. Bà Liên và Thanh Nghi đang ngồi cùng người phụ trách chuyến đầu. Trên bàn là bảng cấp tháng tới; người ấy đã nhận được bản đối phiếu nhưng chưa nhận bản báo mới về bát nước.
“Ta có thể sửa số của xóm cho chuyến đầu,” ông nói. “Nhưng cần người nhận ở đó xác nhận lượng hiện có, nếu không ta chỉ thay một số bằng một số khác.”
Bà Liên đưa giấy người phụ nữ đã đồng ý gửi: nhà còn gạo vài ngày, khoản đã mua được hoàn bằng gạo. Người phụ trách hỏi các nhà khác trong xóm thì sao. Bà không biết hết; ông đề nghị người nhận ở xóm tập hợp lượng dự phòng trước ngày xe đi.
Bảo nhìn ngày hẹn. Chỉ còn hai ngày. Hắn hỏi nếu người nhận không kịp tập hợp thì chuyến đầu có dừng không. Ông đáp sẽ không dừng toàn bộ; có thể giao phần đã xác nhận cho những nơi khác, còn xóm đang đối sẽ có một khoản dự phòng riêng nếu kho đủ. Ông Sửu cần xem kho trước khi hứa số.
“Để trống số dự phòng thì người xóm biết dựa vào đâu?” Thanh Nghi hỏi.
Người phụ trách gõ bút xuống bàn. “Họ cần một số. Ta chưa có số chắc.”
Bảo nhớ dấu hỏi Mộc để ở dòng nhòe. Hắn kéo giấy lại, kẻ hai cột: *đã xác nhận* và *cần xác nhận trước chuyến*. Hắn viết phần đã giao cho nhà người bệnh ở cột đầu, để chỗ trống cho các nhà khác ở cột sau. Bên dưới hắn ghi giờ người phụ trách hẹn nhận tin từ xóm.
“Đến giờ này nếu chưa có tin thì ông báo ai?” hắn hỏi.
“Báo ta ở trạm, và báo kho.”
Hắn viết tên trạm, không viết một con số chưa ai đồng ý. Bà Liên xem, nói mình sẽ chuyển giấy cho người nhận ở xóm. Người phụ trách ký xác nhận giờ hẹn; ông không ký rằng kho đã có đủ hàng.
Trên đường về, Bảo hỏi Thanh Nghi: “Nếu họ không kịp gửi số thì sao?”
“Chúng ta đã biết ai cần báo và lúc nào. Nhưng vẫn phải chuẩn bị cho việc không đủ.”
Nàng nói muốn gặp bà Hạnh ngày mai, hỏi thêm về đường nước và những người từng thay lưới. Bảo bảo hắn cũng đi nếu bà đồng ý. Hắn muốn biết sợi dây nhỏ kia từ đâu tới, nhưng không muốn một nút buộc biến thành lời buộc tội.
Tối ấy, Ninh đo lại bằng ống đồng. Dấu trên ống cao hơn lượt sáng một chút. Bà ghi hai kết quả, không tuyên bố cửa đã ổn định. Bà Liên nhận ca, cầm sổ và tờ giờ hẹn ở trạm. Bảo đưa Ô Kê ít cơm, giữ phần còn lại cho mình.
Hắn đặt đồng tiền Mộc để lại lên bàn một lúc, rồi cất vào túi. Trên giấy của hắn có ba cột mới: người trực, phần cần xác nhận và giờ nhận tin. Hắn thêm một dòng cho chuyến gạo ngày kia, để khoảng trống sau chữ *dự phòng*.