Chương 468: Phần Đường Về
Bảo trả tiền phòng trước khi hỏi giá xe.
Chủ quán đặt hai đồng tiền hắn đưa lên bàn, đẩy lại một ít tiền lẻ. Bảo đếm, nhận đúng rồi nhìn giỏ Ô Kê.
“Nó không làm vỡ bát thật chứ?”
“Không. Nó ăn hết thóc ngươi gửi, thêm một nắm của ta.”
“Vậy nắm ấy bao nhiêu?”
“Đứa bé cho. Hỏi nó.”
Đứa trẻ đang ngồi ở cửa, nghe gọi liền nói mình không bán thóc. Bảo hỏi vậy em muốn đổi lấy gì. Nó nhìn con gà, muốn đưa tay vuốt; hắn giữ hai cánh Ô Kê để nó không mổ. Đứa trẻ vuốt được một lần, cười rồi chạy về khoe với mẹ. Bảo cho rằng khoản nợ đã trả xong.
Thanh Nghi mang bản ghi từ nhà mái đen về. Nàng đã đọc cùng bà Liên, Vĩnh và Ninh: mực nước qua bốn lượt gần đây tăng chậm, đèn vẫn sáng; tấm đồng được đặt lại theo hướng bà Hạnh chỉ; lưới mới đã thay. Việc nước hạ do rong, dây hay cả hai chưa được kết luận. Ninh sẽ gửi số đo cho điện và để một bản ở cửa.
“Bà Liên có đi trạm lớn không?” Bảo hỏi.
“Nếu biết ngày và tiền đường, bà muốn đi. Nhưng phải bàn người thay ca.”
Nàng đưa hắn một tờ giấy khác. Vĩnh đã chép phần công việc ở cửa biển mà mọi người đồng ý chia sẻ với Lạc Kê: cách báo khi nước xuống, tên trạm nhận tin, và việc cần đối phiếu trước khi tính một dòng bị gạch. Danh sách những người trực không có trong đó; họ chỉ cho tên người liên lạc.
Bảo đọc, hỏi tờ này có được đưa cho bà Mạnh và Hổ không. Thanh Nghi đáp được. Nếu muốn gửi tiếp cho nơi khác, họ sẽ hỏi Vĩnh hoặc bà Liên.
Hai người tới trạm. Xe chở chum đã đi từ hôm trước; chuyến gần nhất về phía Lạc Kê là xe vải, còn một chỗ trên thùng và một chỗ cạnh người đánh xe. Người đánh xe báo giá từng chỗ, nói xe dừng một đêm ở trạm giữa đường. Bảo tính tiền ăn và phòng cho đêm ấy, rồi hỏi nếu Ô Kê đi cùng có phải trả thêm không.
“Gà có ở trong giỏ không?” ông hỏi.
“Có. Nhưng nó có thể chui ra.”
“Vậy buộc giỏ.”
Bảo không hứa điều mình chưa chắc làm được. Ông đánh xe đồng ý cho nó đi nếu giỏ đặt ở chỗ Bảo giữ; nếu làm hỏng hàng, hắn phải trả. Thanh Nghi nhận chỗ trên thùng, hắn ngồi gần người đánh xe với giỏ dưới chân. Mỗi người trả tiền của mình, nhận giấy ghi ngày và giá.
Trước khi đi, họ trở lại mỏm đá. Bà Liên đang giao ca cho Thành. Anh đã được hỏi có muốn học nhận thêm việc ở cửa sau chuyến chở muối không; anh nói muốn học cách kiểm lưới, nhưng chưa nhận một mình. Vĩnh ghi đó là buổi tập, không tính Thành thay người trực.
Thành đưa Bảo nửa chiếc bánh còn nợ. Hắn định ăn ngay, anh nói phải kiểm xem có đủ một nửa không. Bảo đặt cạnh nửa chiếc mới mua; hai phần không bằng nhau, nhưng hắn nhận.
“Phần của anh nhỏ hơn.”
“Ta đi xe lâu, bánh bị nén.”
“Vậy lần sau đừng ngồi lên.”
Bà Liên mang một gói cá khô gửi bà Mạnh, nhờ đổi gạo như lần trước. Bà không nhờ Bảo chuyển bản gốc cuốn sổ; bản chép đã được đọc và đồng ý gửi. Bà hỏi hắn có muốn biết tin cửa biển sau khi về không. Hắn đáp có, nhất là khi biết bát nước có trở lại mức cũ và người nhận ở xóm bên đã chọn người thay hay chưa.
“Ta sẽ viết,” bà nói. “Còn ngươi đừng chờ thư mới ăn.”
“Con không hứa chuyện đó.”
Họ đi lúc nước xuống. Phong chở qua đoạn sâu, còn đoạn cạn thì hai người bước trên đá. Bảo mang giỏ gà, Thanh Nghi giữ túi giấy cao khỏi mặt nước. Đến bờ, hắn quay lại nhìn căn nhà mái đen. Từ đây không thấy bát nước, chỉ thấy ánh đèn trong hộp kính và một bóng người đứng cạnh cửa.
Hắn nhớ lúc mới tới, mình nghĩ phải mang nồi đến mới giúp được. Cuối cùng chiếc nồi vẫn ở Lạc Kê; ở đây có người chở dầu, người đối sổ, người đo và người nhận phần. Hắn không biết họ sẽ xử lý lần nước xuống tiếp theo ra sao, nhưng biết ai đang nhận lượt hôm nay.
Xe vải đi qua cánh đồng rồi vòng lên đường cao. Bảo đặt giỏ trong lòng, một tay giữ mép. Ô Kê không yên, cứ thò mỏ tìm khe. Người đánh xe đưa cho hắn chiếc khăn phủ lên giỏ; con gà mổ hai cái rồi ngừng.
“Ông nuôi gà à?” Bảo hỏi.
“Ta chở vải. Có lần một con gà làm rách cả bó.”
“Người nuôi có đền không?”
“Có. Sau đó ta bảo người đi xe tự giữ.”
Bảo kéo khăn kín hơn. Hắn không muốn thử xem tiền công còn lại đủ đền bao nhiêu vải.
Đến trạm giữa đường, họ ăn cơm ở quán. Bảo mua một bát, ăn xong vẫn đói. Hắn nhìn giá bát thứ hai, rồi nhìn khoản tiền còn lại. Nếu mua, tiền xe đã trả, nhưng khoản dự phòng sẽ giảm. Hắn hỏi chủ quán có việc gì đổi lấy cơm không.
Bà chỉ đống củi bên vách. Một phần đã chẻ, phần còn lại cần đưa vào trước khi mưa. Hắn hỏi cần bao nhiêu chuyến. Bà nói đưa hết đống dưới mái thấp thì đổi được một bát. Hắn nhận; Thanh Nghi tự trả tiền phần của nàng, sau đó giúp bà xếp bát vào kệ vì thấy đường đi đang vướng.
Bảo chuyển củi, mỗi lần ôm một bó. Ô Kê chạy theo, bị một mẩu vỏ cây rơi xuống đầu. Nó nhảy lên chân hắn; hắn phải dừng, đặt củi xuống rồi nhấc nó ra xa. Chủ quán đưa một cái rổ có nắp, hỏi có thể để nó trong đó một lát không. Hắn đồng ý sau khi kiểm khe thoáng. Con gà mổ nắp nhưng không lật được.
Xong việc, Bảo nhận bát cơm thứ hai và một ít rau muối. Hắn ăn hết, ghi vào tờ tiền đường: bát đầu trả tiền, bát sau đổi bằng công chuyển củi. Mộc từng nói đừng chỉ ghi những thứ mất tiền; công sức cũng là một khoản. Hắn ngừng bút, nhớ không thể đưa tờ giấy này cho ông xem nữa.
Thanh Nghi ngồi đối diện, không hỏi vì sao hắn dừng. Nàng đẩy ấm nước lại gần. Hắn uống, rồi viết thêm giờ xe dự định đi sáng mai.
Đêm ấy mưa nhỏ. Người đánh xe dùng bạt che vải, nhờ Bảo giữ một đầu trong lúc ông buộc dây. Bảo nhìn nút, nhớ Thành đã đổi nút lưới vì dây ngắn. Hắn hỏi người đánh xe có cần thêm dây không; ông nói đủ, chỉ cần hắn giữ bạt khỏi chạm bánh. Hắn làm đúng phần ấy, không tự thắt nút khác.
Sáng hôm sau, xe tới trạm gần Lạc Kê. Một người đưa thư đang chờ chuyến về phía biển; anh nhận ra tên Bảo trên phong bì và trao thư của bà Mạnh. Bà viết người sửa giấy đã tách được thêm một trang của sổ cũ. Trang ấy ghi một lượt chuyển phần từ cửa chín sang nơi khác, nhưng tên nơi nhận bị mất một góc. Bà chưa biết đó có phải cửa biển.
Bảo đọc thật chậm. Thanh Nghi hỏi có thể xem không. Hắn đưa nàng; bà Mạnh viết thêm nếu hai người về tới làng sẽ cùng xem bản gốc, chưa nhờ ai mang nồi đi. Hổ gửi một dòng cuối thư: ca ở giếng vẫn có người nhận, Tín đã học nấu cháo mà không làm cháy quạt.
Bảo cười. “Đệ ấy chắc tự viết câu cuối.”
Nét chữ quả thật khác. Thanh Nghi gấp thư, nói khi về có thể hỏi trực tiếp. Hai người trả lời người trạm rằng họ đang trên đường, sẽ tới làng trong ngày. Bảo thêm một dòng cho bà Liên: họ đã nhận thư, nếu tìm được thông tin liên quan đến cửa biển sẽ hỏi người trực ở làng trước khi gửi.
Tới đầu đường vào làng, Hổ đã đợi. Anh nhận túi cá khô của bà Liên, còn Bảo giữ giỏ Ô Kê. Tín từ trong sân chạy ra, vừa nhìn thấy con gà đã hỏi nó có ăn hết phần thóc trên đường không.
“Nó còn nợ ta một con cá,” Bảo nói.
“Vậy huynh đã ghi chưa?”
“Đã ghi trong đầu.”
“Dễ mất lắm.”
Bà Mạnh đứng ở hiên từ đường. Bà nhìn hai người, hỏi đã ăn trưa chưa. Bảo đáp chưa; bà chỉ nồi cháo trong bếp, bảo họ ăn trước rồi xem trang giấy. Hắn muốn đọc ngay, nhưng mùi cháo nóng kéo hắn về bàn. Thanh Nghi rửa tay, ngồi xuống cạnh hắn.
Sau bữa ăn, bà Mạnh mở hộp giấy. Trang được tách nằm trên một tấm lót; người sửa giấy đã giữ cả mảnh rách tìm thấy trong hộp cũ. Hai mảnh không ghép kín, nhưng khi đặt cạnh nhau, bên dưới cột nơi nhận lộ ra một nét giống hình sóng.
“Đây có phải cửa biển không?” Bảo hỏi.
“Ta chưa biết,” bà đáp. “Trong sổ có thể còn trang chỉ nghĩa của dấu. Ta muốn nhờ con và Thanh Nghi đối với những gì các con đã thấy.”
Hắn lấy tờ giấy của Mộc, đặt cạnh bản chép Vĩnh cho phép mang về. Trên một tờ là nét sóng chưa rõ; trên tờ kia là dấu ở mép bát, không giống hoàn toàn. Hắn không vẽ thêm để chúng khớp nhau.
Ô Kê nhảy lên bậc cửa, nhìn chiếc túi cá khô Hổ vừa đặt xuống. Bảo kéo túi về phía mình. “Đây là của bà Mạnh.”
Bà lấy một con nhỏ, đặt vào tay hắn. “Cho nó nửa con. Nửa còn lại để nấu.”
Hắn bẻ đôi, đưa Ô Kê một phần. Con gà ăn rất nhanh, còn hắn ngồi xuống cạnh trang sổ. Ngoài giếng, người chị nhà bác giữ dây gọi giờ đổi ca; Hổ đáp và bước ra. Trong từ đường, nét sóng nằm giữa hai mép giấy chưa khép kín.