Chương 474: Con Suối Bên Trái Đồi
Bảo hỏi đường tới bến trong trước khi nồi cháo sôi.
Lão Kỷ đặt bát xuống. “Hôm qua ta chỉ nói người chở hàng từng hỏi. Ngươi định đi tìm ngay à?”
“Con muốn xem con suối Thôi thúc nhớ. Con chưa định xuống bến một mình.”
Ông lấy một mẩu than, vẽ đường từ làng qua dãy đồi. Đến đoạn suối, ông dừng bút. “Ta đi lần cuối trước khi đường đổi. Từ đây trở đi phải hỏi người ở trạm.”
Bảo ghi chú bên cạnh nét than. Tín nhìn bản vẽ, chỉ một ngã rẽ.
“Nếu tới trạm mà người ta không biết bến thì sao?”
“Con ăn bữa trưa ở đó rồi về,” Bảo đáp.
“Huynh nhớ mang tiền.”
Hắn vỗ túi áo. Đồng tiền Mộc để lại vẫn ở ngăn riêng; khoản còn lại đã đếm tối qua. Hắn tính nếu chỉ đi tới trạm và trở về trong ngày thì đủ một bữa ăn, nhưng phải dành thêm ít tiền nếu đường bị chặn. Lão Kỷ nhìn hắn tính, đưa thêm một nắm bánh khô.
“Ta bán cho ngươi, không cho không.”
“Bao nhiêu ạ?”
Ông nói giá. Bảo đếm tiền trả, kiểm từng chiếc bánh rồi buộc túi. Tín hỏi có thể mua một chiếc không; hắn lấy đúng một chiếc đưa cậu, nhận lại tiền theo phần đã chia. Ô Kê muốn nhận phần của mình, nhưng bị Tín bế đi khỏi bàn.
Bà Mạnh nghe hắn nói định đi trạm, hỏi ai nhận ca thay. Hổ đã hẹn tới giúp bác giữ dây sửa chiếc ghế, còn cô em nhận lượt buổi sáng. Bảo hỏi người chị có thể đổi cho hắn lượt chiều không. Chị xem việc nhà rồi nhận, nhưng muốn hắn về trước tối để hôm sau đổi lại. Hắn ghi giờ và nói nếu trễ sẽ nhờ trạm chuyển tin.
Thanh Nghi muốn đi cùng. Nàng đem bản chép dấu hai vòng của gia đình người giữ sổ và mảnh giấy ghi lời Thôi thúc. Bà Mạnh dặn họ không mang trang gốc; người sửa giấy đang hong phần còn dính, chiều mới kiểm lại. Hắn để tờ giấy Mộc trong túi áo, mang thêm bút than và bình nước.
“Con gà ở đâu?” nàng hỏi khi họ tới cổng.
Trong giỏ dưới chân Bảo có tiếng động. Hắn mở hé nắp, thấy Ô Kê đã ngồi bên trong, đầu áp sát thành giỏ. Hắn không biết nó chui vào lúc nào. Tín đứng sau cười; cậu nói chỉ mang giỏ ra cổng, không bỏ gà vào.
“Đệ có để thóc trong đó không?”
“Có mấy hạt.”
“Vậy đệ đã bỏ nửa con gà vào rồi.”
Bảo đành mang giỏ theo. Hai người đi qua dãy đồi, tới con suối như Thôi thúc chỉ. Nước không sâu, nhưng một đoạn bờ bị sạt, phải men lên phía trên mới qua được. Bảo đặt giỏ xuống, dùng sào thử nền trước khi bước. Thanh Nghi nhắc hắn xem đường về; nếu mưa thêm, chỗ vừa đi có thể lún.
Phía bên kia có hai lối. Một lối rộng, in vết bánh xe mới; lối còn lại cỏ mọc gần kín. Họ chọn đường xe để tới trạm, không đoán lối cũ dẫn thẳng tới bến. Đến gần trưa, mái trạm hiện sau hàng cây, trước sân có một chiếc xe gỗ đang được sửa bánh.
Người giữ trạm nhận bản chép dấu hai vòng, nói mình mới về làm ở đây, không biết bến trong. Ông chỉ người đang sửa bánh là bà Vân, thường chở hàng qua các bến dọc sông. Bà Vân rửa tay, nhận tờ giấy và nhìn kỹ.
“Hai vòng này ta từng thấy trên bao hàng cũ. Bến trong còn, nhưng người ta gọi bến ấy bằng tên khác.”
“Có đi từ đây được không?” Thanh Nghi hỏi.
“Được. Nhưng đường xe xuống bến đã đổi sau trận sạt. Đi bộ mất nửa ngày, qua một xóm có người biết lối.”
Bảo lấy mẩu giấy ghi tên người đưa phần. Bà Vân nói bà biết một người cùng tên từng làm nghề chở hàng, đã nghỉ nhiều năm. Người ấy ở xóm gần bến, nhưng bà không biết ông có muốn gặp khách không. Bà thường giao hàng cho con ông; chiều nay có thể hỏi giúp.
“Chúng con có thể gặp trực tiếp để hỏi không?”
“Nếu người nhà đồng ý. Hôm nay các ngươi không kịp xuống bến rồi về làng trước tối.”
Bảo nhìn mặt trời, rồi nhìn nắm bánh còn trong túi. Hắn đã hẹn đổi ca sáng mai, không thể tự coi lời hẹn ấy không quan trọng. Thanh Nghi đề nghị để lại câu hỏi ở trạm, nhờ bà Vân chuyển; họ có thể trở lại khi biết đường và có thời gian.
Người giữ trạm đưa cơm trưa. Bảo mua một bát bằng tiền của mình, Thanh Nghi trả phần của nàng. Hắn ăn hết, định mua thêm thì nhớ khoản dành cho đường về. Chủ trạm nói có đống sọt cần đưa vào kho trước mưa, nếu hắn giúp sẽ đổi được nửa bát cơm. Hắn nhận, chuyển từng chồng sọt, không kéo sát chiếc xe đang sửa.
Làm xong, hắn hỏi bà Vân giá chở hai người tới xóm gần bến. Bà nói phải xem có hàng đi cùng không; nếu xe trống thì giá cao hơn, còn khách muốn quay trong ngày phải đợi bà giao hàng xong. Hắn ghi giá dự kiến và chữ *chưa hẹn*, không đem số ấy tính là giá chắc.
Trong lúc đợi cơm, Thanh Nghi xem bản chép của gia đình người giữ sổ. Nàng chỉ hai vòng nhỏ có nét ngắn bên cạnh: “Bà Vân nhận ra hai vòng, nhưng chưa nói về nét ngắn.”
Bà Vân lại gần, nhìn lần nữa. “Dấu trên bao ta thấy chỉ có hai vòng. Nét này có thể do người ghi thêm, nhưng ta không biết nghĩa.”
Bảo định xếp tờ giấy lại thì người giữ trạm mang ra một cuốn sổ giao hàng cũ. Ông nói sổ thuộc trạm, có vài trang đã được sao khi bàn giao; nếu muốn xem tên người chở, họ phải nói rõ ngày hoặc mùa để khỏi lật cả cuốn. Bảo đưa tháng trên mẩu giấy của gia đình người giữ sổ, giải thích ngày cụ thể trên trang làng bị mất.
Người giữ trạm tìm được một dòng cùng tháng, ghi người chở cùng tên và một chuyến qua bến. Nhưng cột nơi giao cuối để trống. Ông chỉ dấu bên cạnh: hai vòng nhỏ. Bảo nhìn, thấy không có nét ngắn như trên bản gia đình.
“Chỉ biết anh ấy có một chuyến qua bến,” Thanh Nghi nói. “Chưa chắc là chuyến trong sổ làng.”
“Phải,” người giữ trạm đáp. “Còn cột cuối để trống có thể vì trạm này không nhận tin sau đó.”
Bảo xin chép dòng ấy. Ông cho chép tên, tháng và dấu, không cho mang sổ. Thanh Nghi viết, ông đối lại. Bảo thêm lời bà Vân: tên bến đã đổi, đường cũ bị sạt; nếu muốn tìm người chở phải hỏi gia đình trước.
Trước khi họ về, bà Vân đồng ý chuyển câu hỏi tới người nhà người chở: liệu ông có nhớ từng nhận một chuyến từ Lạc Kê và có muốn gặp người hỏi không. Bà không nhận chuyển số phần hay bản sổ gốc. Bảo viết tên mình và địa chỉ trạm gần làng, rồi đọc lại cho bà. Bà gấp giấy, cất vào túi áo.
Mưa bắt đầu khi họ trở lại con suối. Nước lên thêm một chút, nhưng chỗ qua vẫn nhìn thấy đá. Bảo đưa giỏ Ô Kê cho Thanh Nghi, bước trước bằng sào; đến giữa dòng hắn bị trượt một chân. Nàng đặt giỏ lên bờ, kéo đầu sào để hắn lấy lại thăng bằng. Hắn ướt đến đầu gối, bút trong túi vải vẫn khô.
“Con đã thử nền,” hắn nói.
“Con thử chỗ trước mặt. Chân sau vẫn đặt lên đá trơn.”
Hắn nhìn đôi giày. “Lần về con sẽ nhớ.”
“Đây đã là lần về.”
Hắn không cãi. Hai người tới làng khi trời chưa tối. Người chị nhà bác giữ dây vẫn nhận ca; Bảo báo mình đã về, xác nhận lượt sáng mai sẽ đổi lại như đã hẹn. Chị hỏi Ô Kê có làm rách bản chép không. Hắn nói không, nhưng nó đã ăn mất mấy hạt thóc trong giỏ từ trước lúc đi.
Bà Mạnh xem bản chép ở trạm. Bà nói cái tên và dấu hai vòng giúp biết có một chuyến qua bến cùng tháng, nhưng chưa chứng minh đó là phần từ cửa chín. Hắn kể bà Vân sẽ hỏi người nhà người chở, còn đường xuống bến cần tính một chuyến riêng.
Người sửa giấy đã hong thêm trang sau. Bà nói có thể thử tách vào sáng mai; hôm nay mép vẫn hơi dính. Bảo đưa bà nửa chiếc bánh lão Kỷ bán. Bà hỏi giá, hắn nói mình trả rồi, nhưng nếu bà nhận thì nhờ báo khi nào cần hắn giữ tấm lót. Bà nhận, bảo sáng mai hãy đến sau bữa ăn.
Tối đó, Bảo ghi chi phí chuyến đi lên tờ giấy của mình: bánh mua của lão Kỷ, một bát cơm ở trạm, nửa bát đổi bằng công chuyển sọt, và đường về không mất tiền xe. Hắn giữ đồng của Mộc riêng. Hắn cũng ghi điều chắc nhất: trạm có một dòng cùng tháng và cùng tên, qua một bến mang dấu hai vòng.
Thanh Nghi đặt bản chép mới cạnh bản từ cửa biển. Nàng không nối nét ngắn vào hai vòng. Bảo hỏi nàng liệu bến trong có thể liên quan cửa biển không. Nàng đáp có thể, nhưng người chở hoặc sổ ở bến có thể cho biết nhiều hơn.
Tín mang nước nóng đến cho hắn rửa chân. Cậu nhìn đôi giày ướt, hỏi: “Huynh đã nhớ thử đường về chưa?”
“Có. Nhưng ta thử hơi muộn.”
Cậu đặt chậu xuống, lấy thêm chiếc khăn khô. Ngoài hiên, Ô Kê rúc đầu dưới cánh trong chiếc giỏ đã ăn hết thóc. Trên bàn, tờ giấy gửi bà Vân đã đi cùng người chở hàng; còn bản chép của trạm nằm cạnh bát nước, nét hai vòng chưa có tên nơi nhận cuối.